Tạp chí Thanh Niên Phía Trước » Kinh tế – Đời sống http://phiatruoc.info Ngòi bút của trí thức - Tinh thần của tuổi trẻ Sun, 08 Sep 2013 18:37:24 +0000 en-US hourly 1 Khúc Khải hoàn của đô thị thế giới http://phiatruoc.info/khuc-khai-hoan-cua-do-thi-the-gioi/ http://phiatruoc.info/khuc-khai-hoan-cua-do-thi-the-gioi/#comments Fri, 06 Sep 2013 19:44:17 +0000 tapchiphiatruoc http://phiatruoc.info/?p=11715 Thùy Dương chuyển ngữ, CTV Phía Trước
Ángel Martín Oro, FEE

Làm thế nào Phát minh vĩ đại nhất loài người đem đến sự giàu có, thông minh, trong sạch, hạnh phúc và lành mạnh.

Triumpth of the City

Vào năm 2007, lần đầu tiên trong lịch sử, sự đô thị hóa, quy mô và dân số thành thị trên thế giới đã tăng vượt trội so với nông thôn.

Theo điều tra và ước lượng của Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc thì vào năm 2030, dân số thành thị sẽ chiếm tới hơn 60% tổng dân số trên thế giới. Số liệu đó là kết quả của các đường lối, sự thi hành các chính sách kinh tế thông minh và mang đầy tính cách mạng trong nền kinh tế toàn cầu.

Đã có rất nhiều tranh cãi cho rằng, xu hướng này không những đem lại những ảnh hưởng và tác động bất lợi tới môi trường mà nó còn đem lại hậu quả không tốt cho xã hội. Các đô thị, thành phố lớn được xem như một nơi tập trung các bất bình đẳng của xã hội, sự chênh lệch mức sống trong dân chúng và có các họat động không thân thiện với môi trường. Mặc dù quan điểm này chủ yếu mới xuất hiện, công bố bởi các nhà phê bình chủ nghĩa tư bản, hiện nay nó đã ăn sâu rộng rãi vào dư luận và truyền thông. Do đó, nó mạnh mẽ ảnh hưởng tới các qui định và chính sách mở rộng không gian đô thị trên tòan thế giới.

Một trong những người phản đối mạnh mẽ các phát biểu trên là nhà kinh tế học Edward L. Gleaser tại Đại học Harvad, tác giả của cuốn “Khúc khải hòan của đô thị”.  Ông đã có những lời phản biện khá thuyết phục. Như tiêu đề cuốn sách ông đã viết, Gleaser nói rằng các thành phố hiện đại là “Phát minh vĩ đại nhất của con người”, nó tạo cho chúng ta cơ hội không những giàu hơn mà thậm chí có sức khỏe tốt hơn và môi trường thân thiện hơn.

Cuốn sách là sự kết hợp các logic kinh tế học với sự trợ giúp và nghiên cứu kĩ lưỡng qua các tài liệu, dự án nghiên cứu lịch sử, dữ liệu, các mối quan hệ định lượng (Thuộc toán kinh tế), trực tíêp theo dõi và tham gia vào các nghiên cứu về Đô thị và Đô thị hóa.

Gleaser đã mang đến cho chúng ta cái nhìn bao quát về đô thị đồng thời ông đã cho thấy những lời lẽ có tính thuyết phục để chứng minh cho ý kiến của mình. Gleaser lập luận rằng, “sự phát triển cực thịnh của các đô thị có được bởi con người là tác nhân cốt lỗi cơ bản của xã hội, và họ cần được sống gần nhau hơn” . Ý tưởng quan trọng, đầy tinh tế mà đơn giản này được nhắc đi nhắc lại xuyên suốt cuốn sách. Đáng tiếc rằng, nó lại bị bác bỏ bởi phần lớn các nhà hoạch định chính sách vì họ tin rằng, chỉ có họ mới có thể đưa ra các lập luận, kế hoạch đầy tỉ mỉ và phức tạp về hoạch định đô thị hóa.

Ông đã phân tích các vấn đề đô thị mang tính cấp bách nhất và các phản ứng của chính phủ đối với nó. Mẫu số chung của các chính sách công tồi tệ và nguy hiểm là sự nhận định sai lầm nghiêm trọng về tính chất thật sự của Đô thị: “ Đô thị không phải là các cấu trúc; Đô thị là người dân”. Ông đã minh họa cho thấy qui luật các hậu quả nghiêm trọng không lường trước qua sự can thiệp của chính phủ trên nhiều phương diện và ví do như các chính sách phúc lợi xã hội, vấn đề môi trường và qui hoạch sử dụng đất.

Quan điểm truyền thống cho rằng các thành phố – sự đô thị hóa – tạo ra sự nghèo đói cùng cực. Nhưng Gleaser cho thấy các thành phố, thay vì làm cho người dân nghèo đi, nó lại thu hút những người dân có thu nhập không cao từ các vùng quê hẻo lánh với hị vọng nâng cao chất lượng, điều kiện sống của mình và mong nó đem lại cho họ cơ hội cao hơn để làm điều đó. Vì thế, đô thị phát triển đồng nghĩa với việc các vùng nông thôn – bao gồm của người dân nghèo hay cận nghèo bị giảm xuống, và lịch sử đã chứng minh được điều đó. Trong khía cạnh này, Gleaser đã quan điểm và gọi nó bằng cái tên “Nghịch lý nghèo của đô thị”: “Nếu một thành phố phát triển cải thiện cuộc sống của người dân nghèo bằng cách tăng số lượng các trường công lập và giao thông công cộng, thành phố đó sẽ thu hút người nghèo hơn”. Chính vì điều này, các nhà hoạch định chính sách rơi vào một tình thế khó xử. Một mặt họ muốn cải thiện điều kiện sống của người dân nghèo, nhưng mặt khác chính phủ không muốn thu hút tầng lớp đó vào thành phố của mình, qua đó nó đã đánh lên hồi chuông báo động bằng các số liệu về bất bình đẳng trong xã hội và sự gia tăng của người nghèo.

Triumph-GlaeserVới cách hoạt động của các tiến trình chính trị và những khó khẳn cố hữu của chính phủ nhằm cố gắng cải thiện tình hình hiện tại, không khó để có thể hiểu tại sao các chính sách công càng ngày càng đem lại bất lợi cho những người dân có thu nhập thấp hoặc cận nghèo. Hơn nữa, Gleaser cho rằng, lí do cho các vấn đề của đô thị, không chỉ xuất phát từ sự nghèo đói, ùn tắc giao thông, mà còn “có nhiều khả năng xuất phát từ các hành động và chính sách của địa phương [như từ các doanh nghiệp xã hội] hơn là từ phía liên bang”.

Cuốn sách cũng hướng sự chú ý của của người đọc tới các chính sách môi trường đô thị, nơi Gleaser lại có một cái nhìn hoàn tòan trái ngược, ông viết “Mahattan, London và Thượng Hải là những người bạn thân thiện với môi trường. Những người yêu thiên nhiên được sống bao quanh bởi cây cối, họ có nhiều năng lượng sống hơn những người ở các thành phố còn lại”.

Gleaser kêu gọi cho một chính sách bảo vệ môi trường hòan thiện hơn bởi sự kết hợp của các chính sách kinh tế thông minh và hành động thiết thực để tránh các chính sách có tác dụng không tốt dựa trên những suy nghĩ hão huyền. Tuy rằng nó hảnh hưởng không tốt tới các quy hoạch đô thị ở các nước phát triển, sự đô thị hóa cũng có thể là vấn đề sự sống và cái chết, điển hình như ở Ấn Độ. Ví dụ, hạn chế của việc Mumbai xây dựng các tòa nhà cao tầng làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới những người nghèo là nó cắt giảm và ngăn việc mở rộng chính sách nhà giá rẻ cho người dân.

Tuy cuốn sách nói về các vấn đề vĩ mô và khó hiểu, nhưng cuốn sách của Gleaser vẫn là tài liệu đáng tham khảo cho bất cứ ai muốn tìm hiểu rõ hơn về thành phố bạn đang sống, hơn nữa nó giúp bạn thấy được bản chất của các chính sách công, nó ảnh hưởng thế nào tới bạn và người hàng xóm của bạn. Sau cùng, người đọc sẽ thấy và hiểu các đô thị một cách hoàn toàn khác.

Và có lẽ, sau cùng, họ cũng đồng ý với Gleaser rằng “nền văn hóa, sự thịnh vượng và sự tự do của chúng tôi là những món quà vô giá từ những người sống, làm việc và suy nghĩ cùng nhau”.

© 2013 Bản tiếng Việt TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC – www.phiatruoc.info

 

Scridb filter

]]>
http://phiatruoc.info/khuc-khai-hoan-cua-do-thi-the-gioi/feed/ 0
Việt Nam: Nhiều nhà máy thủy điện có nguy cơ trở thành những ‘quả bom nước’ http://phiatruoc.info/viet-nam-nhieu-nha-may-thuy-dien-co-nguy-co-tro-thanh-nhung-qua-bom-nuoc/ http://phiatruoc.info/viet-nam-nhieu-nha-may-thuy-dien-co-nguy-co-tro-thanh-nhung-qua-bom-nuoc/#comments Wed, 04 Sep 2013 18:14:53 +0000 tapchiphiatruoc http://phiatruoc.info/?p=11689 Thanh Ngân chuyển ngữ, CTV Phía Trước
Nguyen Pham Muoi
, WSJ

HÀ NỘI – Chính phủ Việt Nam đã nêu lên những lo ngại về sự an toàn của hàng trăm đập thủy điện giữa lúc mùa mưa đang bước vào tháng thứ ba, một quan chức chính phủ cảnh báo rằng các đập này có thể biến thành “những quả bom nước”.

 Một người dân sống tại Hà Nội cố đẩy xe máy ngang qua dãy phố bị ngập nước tại Hà Nội hôm ngày 8 tháng Tám, 2013. Photo: WSJ

Một người dân sống tại Hà Nội cố đẩy xe máy ngang qua dãy phố bị ngập nước tại Hà Nội hôm ngày 8 tháng Tám, 2013. Photo: WSJ

“Các nhà chức trách phải thực hiện các bước để nâng cấp cơ sở hạ tầng và tăng cường sự an toàn đối với các đập thủy điện, trước khi chúng có thể trở thành ‘những quả bom nước’ và đe dọa cuộc sống của hàng triệu người dân tại các vùng đất thấp”, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải phát biểu tại một buổi họp chính phủ ở Hà Nội hồi tuần qua để đánh giá tình hình của các đập và hồ chứa giữa mùa mưa bão.

Ít nhất có 371 đập thủy điện và hồ trong số gần 7.000 đang hoạt động có nguy cơ bị hư hại trong các tháng mưa – thường kéo dài từ tháng Bảy đến tháng Mười một –một tuyên bố của chính phủ cho biết.

Hầu hết các đập mà chính phủ quan tâm đều là cỡ vừa và nhỏ, nghĩa là chúng chứa ít hơn 3 triệu mét khối nước, hoặc được xây với đê cao dưới 15 mét. Hiện có 64 đập chứa hơn 1 triệu mét khối nước mà chính phủ đã đánh dấu là “không an toàn” trong vài tháng tới.

Hơn một chục các nhà máy thủy điện gần đây đã được báo cáo có nhiều dấu hiệu hư hại – bao gồm cả gây chết người, thiệt hại mùa màng và nhà cửa bị sụp đổ tại các khu vực lân cận.

Việt Nam là một nền kinh tế nông nghiệp và các đập cũng như hồ đóng vai trò quan trọng trong việc lưu trữ nước. Trong mùa mưa nhiệt đới giữa tháng Bảy và tháng Mười một, các cơ sở này thường đầy nước và do đó trở nên dễ bị hư hại hơn cũng như dễ dẫn tới các cú sốc địa lý hoặc động đất.

Hồi tháng Năm, chính phủ Việt Nam đã phải hủy bỏ kế hoạch xây dựng 338 nhà máy thủy điện với công suất phát điện tổng cộng 1.090 MW vì các dự án không đáp ứng tiêu chuẩn môi trường. Kể từ đó, 67 dự án thủy điện khác cũng đã bị đình chỉ hoặc hủy bỏ, ông Hải nói thêm.

Đến cuối năm 2012, Việt Nam đã có 260 nhà máy thủy điện với công suất tổng cộng lên đến 13.694 MW được đưa vào hoạt động. Ngoài ra, 211 nhà máy khác với tổng công suất 6.713 MW hiện đang được xây dựng.

Các dữ liệu của chính phủ cho thấy Việt Nam ước tính đã sản xuất khoảng 107,9 tỷ kilowatt giờ trong tám tháng đầu năm nay, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm ngoái. Khoảng 40% trong tổng nguồn cung điện này đến từ các nhà máy thủy điện, 33% đến từ các nhà máy khí đốt, 22% đến từ các nhà máy than và phần còn lại đến từ các nhà máy đốt dầu và nhập khẩu.

© 2013 Bản tiếng Việt TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC – www.phiatruoc.info

Scridb filter

]]>
http://phiatruoc.info/viet-nam-nhieu-nha-may-thuy-dien-co-nguy-co-tro-thanh-nhung-qua-bom-nuoc/feed/ 0
Ngành dịch vụ: Chìa khóa cho sự phát triển tại Việt Nam và Papa New Guinea http://phiatruoc.info/nganh-dich-vu-chia-khoa-cho-su-phat-trien-tai-viet-nam-va-papa-new-guinea/ http://phiatruoc.info/nganh-dich-vu-chia-khoa-cho-su-phat-trien-tai-viet-nam-va-papa-new-guinea/#comments Fri, 30 Aug 2013 18:39:29 +0000 tapchiphiatruoc http://phiatruoc.info/?p=11680 Thùy Dương chuyển ngữ, CTV Phía Trước
Aaron Batten & Dominic Mellor, EAF

Mặc dù khác nhau về thể chế, nền kinh tế và nhân khẩu học, Việt Nam và Papua New Guinea (PNG) có một điểm chung rất lớn: cả hai đều không có cơ chế quản lý phù hợp để khai thác đầy đủ các cơ hội trong ngành dịch vụ.

Trường hợp Việt Nam và PNG

Vietnam Foreign InvestmentThường chúng ta thấy rằng, tỷ trọng dịch vụ trong tổng sản lượng kinh tế của một quốc gia sẽ tăng khi thu nhập bình quân đầu người của quốc gia đó tăng. Ngành dịch vụ là một nhân tố quan trọng trong hầu hết các doanh nghiệp quốc doanh và nó giúp định lượng trong việc tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, theo báo cáo gần đây của Asia Developing Bank cho thấy, vấn đề lớn của các quốc gia có mức thu nhập trong khu vực châu Á– Thái Bình Dương đang gặp phải chính là  việc sử dụng ngành công nghiệp dịch vụ khu vực của họ để tạo ra công ăn việc làm, tăng năng suất và nâng cao thu nhập bình quân đầu người.

Tỷ trọng ngành dịch vụ của PNG vãn còn đang ở mức thấp so với các nước trong khu vực châu Á–Thái Bình Dương, với khoảng 29 % tổng GDP, thấp hơn mức trung bình của khối ASEAN là 45%. Sản lượng đầu ra vẫn bị chi phối phần lớn bởi các ngành công nghiệp như khai khoáng, khai thác dầu mỏ, thậm chí cả ngành cây trồng hoa lợi. Trong khi đó, lĩnh vực dịch vụ vẫn chỉ tập trung vào thương mại bán buôn và bán lẻ nội địa, bên cạnh đó còn có giao thông vận tải, tài chính, kinh doanh và dịch vụ, và chúng chỉ để hỗ trợ cho các ngành nông nghiệp và công nghiệp.

Mặc dù có các thành tựu khá ấn tượng kể từ khi Việt Nam được ban hành chínhs ách cải cách kinh tế trong những năm 1980, lĩnh vực dịch vụ của Việt Nam hiện chiếm khoảng 35 % tổng GDP, vẫn thấp hơn rất nhiều so với các nước khác cũng đang trong giai đoạn phát triển kinh tế. Nền kinh tế Việt Nam vẫn bị chi phối bởi một nền sản xuất có giá trị gia tăng thấp, trong đó nông nghiệp chiếm một phần lớn sản lượng mặc dù tỷ trọng sản lượng đã giảm. Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp dịch vụ lại bị hạn chế và chỉ tập trung chủ yếu vào ngành du lịch, thương mại bán buôn và bán lẻ, vận chuyển, lưu trữ, viễn thông và bất động sản.

Cần xóa bỏ độc quyền kinh doanh của chính phủ

Mặc dù khác nhau về quy mổ tổ chức nhưng cả hai nước Việt Nam và PNG có rất nhiều lý do cơ bản giải thích vì sao ngành dịch vụ chưa phát triển, hay đúng hơn là khó để phá triển.  Lý do lớn nhất cho điều này là năng suất của các ngành thấp dẫn tới cản trở sự xuất hiện của các hoạt động dịch vụ trong khu vực mang lại giá trị gia tăng cao hơn.

Ngoài ra, cơ sở hạ tầng giáo dục của cả hai nước không đáp ứng được những đòi hỏi về nguồn nhân lực có chuyên môn mà ngành công nghiệp dịch vụ chủ yếu dựa vào. PNG còn nằm trong tình trạng tồi tệ hơn qua việc chảy máu chất xám, các sinh viên có chuyên môn, tay nghề kĩ thuật tốt trong ngành khai thác khoáng sản lại đi tìm thị trường nước ngoài để thỏa mãn mong muốn được trả lương cao hơn.

Bên cạnh đó, cả hai nước có môi trường doanh nghiệp khá yếu kém. Các quy định, điều lệ thường cản trở thương mại, các doanh nghiệp nhà nước với nhiều lợi thế hoạt động lấn át các doanh nghiệp tư nhân. Ở Việt Nam, trong khi nhiều ngành công nghiệp dịch vụ được tư do hóa ở các năm gần đây nhưng họ vẫn bị chính phủ chi phối trong các ngành sản xuất và đầu tư, đặc biệt trong lĩnh vực viễn thông và tài chính. Tương tự như vậy, hoạt động yếu kém của chính phủ PNG vẫn độc quyền trong ngành hàng không, năng lượng, cảng biển, viễn thông, dịch vụ bưu chính và ngành kinh doanh nước sạch.

Tuy nhiên, trong thập kỉ vừa qua hai nước đã chứng minh và cho thấy những tiến bộ vượt bậc bằng việc tăng quy mô và phạm vi hoạt động của ngành dịch vụ. Mặc dù nền kinh tế của PNG vẫn còn nằm trong số các nước chưa phát triển nhưng bằng một số cải cách, tốc độ tăng trưởng của ngành dịch vụ tại PNG đã gia tăng đáng kể. Việc đầu tiên là PNG đưa ra một loạt các cải cách nhằm tư nhân hóa Tập đoàn Ngân hàng Papue New Guinea, thành lập Ngân hàng Trung ương như một cơ quan họat động độc lập để bình ổn về giá cả và ổn định thị trường.

Trong năm 2006, chính phủ PNG cũng đã bỏ tính năng độc quyền thị trường điện thoại di động của nước này. Bên cạnh đó, với sự xuất hiện của các hãng hàng không tư nhân, chính phủ PNG đã nhìn ra được hạn chế khi một loạt các dịch vụ như giảm cước vận chuyển, giảm chi phí đi lại trên một số tuyến bay đang thách thức bộ máy hoạt động độc quyền yếu kém của chính phủ.

Chính vì thế cơ hội việc làm trong khu vực doanh nghiệp tư nhân tăng lên đáng kể và được coi là kết quả của một loạt các cải cách trong khu vực dịch vụ mang yếu tố quyết định đến kinh tế của quốc gia. Số lượng việc làm của ngành giao thông vận tải và viễn thông tăng từ mức trung bình 0.7% trong giai đoạn năm 2001–2005 lên đến 5.5 % từ 2006–2011, trong khi đối với ngành tài chính tăng 4.5 % ở thời gian cùng kỳ.

Tương tự như vậy, Việt Nam đã thực hiện một số cải cách pháp lý sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) liên quan tới các vấn đề như quy định lại tỷ giá hối đoái, cải tổ các doanh nghiệp nhà nước, thực hiện các biện pháp kiểm soát chặt chẽ giá cả chống đầu cơ, thực hiện nghiêm ngặt quyền sở hữu trí tuệ và một số hiệp định thương mại song phương.

Những cải cách này đã giúp cải thiện tính minh bạch trong ngành dịch vụ và tăng cường tính pháp lý đối với các quyền lợi các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Chính phủ cũng đã mở cửa cho một số quỹ đầu tư nước ngoài cần thiết cho các ngành công nghiệp dịch vụ, đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản và du lịch. Gần 50% vốn FDI trong giai đoạn 2007–2011 đã được chuyển vào để kích thích tăng trưởng khu vực dịch vụ, giúp kích thích cơ hội việc làm hàng năm khoảng 7 % ( tăng từ 5% trong thời gian 2001–2006 ).

Hộ nhập kinh tế trong khu vực

Nhìn chung, qui mô ngành dịch vụ của PNG và Việt Nam đang tụt hậu so với các nước châu Á–Thái Bình Dương, nhưng họ đang được kỳ vọng qua các chỉ số tăng trưởng khá hứa hẹn. Tỷ trọng tăng trưởng của Việt Nam, mặc dù xuất phát ở chỉ số khá thấp, lại được kỳ vọng và dự kiến sẽ tăng từ 3.8 % mỗi năm trong giai đoạn 2011–2020.

Trong khi đó ở PNG, bên cạnh mức tăng trưởng của ngành khai thác khoáng sản và dầu mỏ, chính phủ đang đầu tư khá nhiều vào giáo dục và phát triển trình độ chuyên môn, triển vọng kinh tế tại đây ước tính sẽ tăng trưởng mạnh mẽ trong thời gian trung hạn.

Nhưng cả hai nước vẫn còn phải nỗ lực rất nhiều để giải quyết các vấn đề khó khăn ở phía trước, đặc biệt phải nói đến việc giải quyết sự méo mó, không minh bạch mà các doanh nghiệp nhà nước đang tạo ra trong nền kinh tế, và tiến hành giảm thiểu hạn chế đối với các doanh nghiệp tự do khi đang phải đối mặt với môi trường doanh nghiệp nặng nề, đầy phức tạp. Xóa bỏ các rào cản quan liêu, xây dựng hoặc cải tổ vấn đề trong các ban ngành đang kìm kẹp sự phát triển của các doanh nghiệp.

Những cải cách này cũng phải đảm bảo đủ nguồn tài chính để đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng, thu hẹp khoảng cách trình độ giữa các công nhân đang diễn ra trong thời gian hiện tại. Ngoài ra, tiếp tục nỗ lực hội nhập với nền kinh tế trong khu vực, ví dụ như trong cộng đồng ASEAN, khả năng để thúc đẩy tăng trưởng là hoàn toàn có thể làm được. Chỉ khi đó, cả Việt Nam và PNG mới có thể đạt được những lợi ích toàn diện trong ngành dịch vụ của mình trong giai đoạn phát triển kinh tế kế tiếp.

© 2013 Bản tiếng VIỆT TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC – www.phiatruoc.info

Scridb filter

]]>
http://phiatruoc.info/nganh-dich-vu-chia-khoa-cho-su-phat-trien-tai-viet-nam-va-papa-new-guinea/feed/ 0
Việt Nam: Những tiền đề khủng hoảng http://phiatruoc.info/viet-nam-nhung-tien-de-khung-hoang/ http://phiatruoc.info/viet-nam-nhung-tien-de-khung-hoang/#comments Tue, 27 Aug 2013 17:06:54 +0000 tapchiphiatruoc http://phiatruoc.info/?p=11665 Phạm Chí Dũng
Trích từ VOA

Con tin suy thoái của các nhóm lợi ích:

Chưa bao giờ nền kinh tế Việt Nam lại rơi vào tình trạng bấp bênh nguy hiểm như giờ đây, với quá nhiều hệ lụy từ hệ thống ngân hàng và các thị trường đầu cơ như bất động sản, vàng, chứng khoán, cùng khối nợ xấu khổng lồ có thể lên đến trên 500.000 tỷ đồng và nợ công quốc gia có thể lên đến 95 – 106% GDP nếu tính theo tiêu chuẩn của Liên hiệp quốc, trong đó có đến vài chục tập đoàn kinh tế quốc doanh có rất ít khả năng thu hồi vốn từ đầu tư trái ngành những năm trước và cũng có rất ít khả năng trả nợ cho Nhà nước từ tình trạng chúa chổm hiện nay.

Kinh te VN-4-1Đầu năm 2013, lần đầu tiên Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thừa nhận có đến 100.000 doanh nghiệp phải giải thể và phá sản. Con số này chiếm khoảng 18-20% tổng số doanh nghiệp đăng ký hoạt động tại Việt Nam. Kể từ năm 1990 đến nay, đây là con số ngừng hoạt động lớn nhất, cho thấy tình trạng nền kinh tế đã ở vào thế bĩ cực. Hậu quả này xuất phát từ chính sách siết tín dụng cực đoan và treo cao mặt bằng lãi suất cho vay của Ngân hàng nhà nước và nhóm các ngân hàng thương mại cổ phần lớn, dẫn đến hệ lụy có đến ít nhất 60% doanh nghiệp không đủ vốn giá rẻ để hoạt động. Thiếu vốn lại dẫn đến đình trệ sản xuất và kéo theo thất nghiệp tràn lan.

Cho đến gần đây, bất chấp những đánh giá tô hồng của các cơ quan quản lý nhà nước về “kinh tế đã thoát đáy” hay “kinh tế có triển vọng phục hồi”, số doanh nghiệp ngừng hoạt động vẫn chưa có dấu hiệu suy giảm. Động lực tiếp tục treo khá cao mặt bằng lãi suất cho vay của các ngân hàng cũng đang khiến cho không chỉ doanh nghiệp mà nhiều nhà băng chìm trong nguy ngập ứ vốn.

Trong khi đó, nợ và nợ xấu vẫn chưa có tín hiệu nào khả quan hơn độ trũng chưa đến đáy của chúng. Chỉ vào tháng 7/2013, một báo cáo của Ủy ban giám sát tài chính quốc gia mới lần đầu tiên thừa nhận tỷ lệ nợ xấu bất động sản tại các ngân hàng thương mại cổ phần đã lên tới 33-35%. Con số này rất trái ngược so với báo cáo của Ngân hàng nhà nước vào tháng 5/2013 và của Bộ Xây dựng vào tháng 7/2013, trong đó cho biết tỷ lệ nợ xấu trong lĩnh vực bất động sản chỉ còn 5,68% và 6,5%.

Tức con số của Ủy ban giám sát tài chính quốc gia cao gần gấp 6 lần con số báo cáo của các cơ quan khác, tạo nên độ phân hóa dữ dội ngay trong hệ thống nội bộ về nhận thức tư tưởng và quan trọng hơn là thái độ “mở miệng”.

Hậu quả của gần ba năm suy thoái qua là gần như toàn bộ nền kinh tế Việt Nam đã rơi vào tình cảnh kiệt quệ, với vòng quay vốn chỉ còn 0,8 lần so với hơn 2 lần vào những năm 2007-2008. Sức mua của xã hội giảm sút đột ngột và đẩy nhanh nguồn cầu vào tình thế bán phá giá.

Nếu không giải quyết được nợ và nợ xấu, trong đó chủ yếu là nợ xấu bất động sản, một phản ứng sụp đổ dây chuyền giữa các doanh nghiệp bất động sản với nhau và doanh nghiệp bất động sản với các ngân hàng chủ nợ, đặc biệt là những ngân hàng nhỏ không trường vốn, là hoàn toàn có thể xảy ra. Khi đó, những vụ vỡ nợ của ngành bất động sản rất có thể sẽ kéo theo sự sụp đổ của ngân hàng và của cả nền kinh tế trong thời gian tới.

Hiểm họa từ cuộc “hạ cánh cứng” của Trung Quốc:

Những điều kiện tốt nhất cho sự phục hồi kinh tế đang dần trôi qua. Đó là sự phục hồi chậm chạp nhưng khá ổn của nền kinh tế Hoa Kỳ bắt đầu từ cuối năm 2011 cho đến nay, trong đó có cả thị trường chứng khoán và đặc biệt  là thị trường nhà ở của Mỹ. Sự phục hồi này còn được các tổ chức IMF, WB và một số tổ chức xếp hạng tín nhiệm lớn trên thế giới như Fitch Ratings, S&P, Moody’s dự báo có thể kéo dài đến hết năm 2014.

Tuy nhiên, mọi hình ảnh phục hồi sẽ không thể tồn tại vĩnh viễn, nhất là trong bối cảnh mà một Nobel kinh tế như Paul Krugman hay những tác giả khác như “chuyên gia tận thế” Nouriel Roubini và doanh nhân có tiếng như Marc Faber vẫn liên tục cảnh báo về những mối họa không tránh khỏi trong những năm tới. Nguy cơ từ các nền kinh tế Hy Lạp, Síp và kể cả Tây Ban Nha, Ý, Bồ Đào nha vẫn còn gần như nguyên vẹn.

Nhưng một trong những mối họa không còn ẩn giấu là nền kinh tế Trung Quốc.

Nợ xấu bất động sản và những dấu hiệu đầu tiên của cơn chao đảo tài chính khiến Trung Quốc có thể đang tiến vào lộ trình của một cuộc hạ cánh không thể mềm, hay nói cách khác là có thể phát sinh một đợt hạ cánh cứng. Hình ảnh “nước giàu dân nghèo” hay “Voi cưỡi xe đạp” của nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới này bắt đầu lộ diện rõ nét. Bất chấp lượng dự trữ khổng lồ về ngoại tệ lên đến 3.400 tỷ USD và được xem là lớn nhất thế giới, Trung Quốc sẽ phải đối mặt với bong bóng nhà đất phình quá lớn và hàng ngàn tỷ USD nợ của chính quyền địa phương không có khả năng thanh toán. Tất cả những hậu quả đó đều có thể ảnh hưởng khá nặng nề đến khối Cộng đồng châu Âu và kể cả Mỹ – những địa chỉ liên đới với các ngân hàng và quan hệ ngoại thương của Trung Quốc.

Nếu các nền kinh tế lớn nhất trên thế giới như Mỹ, Đức và đặc biệt Trung Quốc không thể cầm cự được, kinh tế Việt Nam chắc chắn sẽ phải chịu hệ lụy trực tiếp – một hệ lụy xảy ra song ánh mà không cần chờ đợi một độ trễ nào như đối với cơn khủng hoảng kinh tế thế giới vào năm 2008. Một trong những ảnh hưởng nặng nề nhất đối với kinh tế Việt Nam có lẽ thông qua con đường buôn bán tiểu ngạch truyền thống với Trung Quốc.

Một khả năng đang đến gần là nền kinh tế Trung Quốc không thể cầm cự đến hết năm 2015, thậm chí sẽ suy thoái sớm hơn. Nếu khả năng này xảy ra, cộng hưởng với những khó khăn của kinh tế Mỹ, Tây Âu và đặc biệt là mầm mống khủng hoảng tại khu vực Nam Âu như Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, nền kinh tế Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng hầu như trực tiếp.

Vốn đang nằm trong chu kỳ suy thoái nghiêm trọng kéo dài cùng nội lực gần như suy kiệt, nền kinh tế Việt Nam sẽ khó có khả năng chống đỡ được các cuộc tấn công suy thoái đến từ bên ngoài. Một cuộc suy thoái kép, hoặc lớn hơn là khủng hoảng kinh tế, sẽ đến với Việt Nam, phá tan những cầm cự cuối cùng và đẩy xã hội vào tâm thế hỗn loạn.

Lộ diện những mầm mống khủng hoảng xã hội:

Trong bối cảnh suy thoái trầm kha về kinh tế, nạn tham nhũng, vô cảm quan chức và phân hóa xã hội lại đóng vai trò rất quan yếu trong việc phá nát những rường cột cuối cùng về an sinh xã hội.

Gần như trái ngược với sự thừa nhận thiếu dũng cảm của Đảng và Chính phủ từ “một bộ phận nhỏ” đến “một bộ phận không nhỏ”, tham nhũng đã trở thành một quốc nạn từ chính quyền cấp trung ương đến toàn bộ các chính quyền địa phương, tác động mạnh mẽ nhất đến tình trạng từ suy giảm đến suy kiệt niềm tin vào chế độ của công dân. Cho đến nay và sau quá nhiều lần thất vọng với cơ chế phòng chống tham nhũng của Đảng, người dân đã hầu như không còn hy vọng nào cho một tương lai được nhận ra vẻ sạch sẽ trên khuôn mặt chính thể.  

Trong gần ba năm suy thoái kinh tế qua, chỉ có nhóm lợi ích ngân hàng, nhóm lợi ích vàng và những nhóm lợi ích có tên “Dân sinh” như điện và xăng dầu là còn trụ được. Với nhiều chính sách cố tình làm lợi cho các nhóm lợi ích này, Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã biến các doanh nghiệp và người dân trở thành một thứ con tin không có tương lai.

Hệ lụy kinh tế lại dẫn đến hệ lụy xã hội. Trong khi Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội công bố tỷ lệ thất nghiệp vào cuối năm 2012 chỉ là 1,99%, tỷ lệ thất nghiệp thực tế ở Việt Nam đang có thể vượt trên 20%, thậm chí sánh ngang với tỷ lệ thất nghiệp 26% ở Tây Ban Nha hoặc gần 30% ở Hy Lạp.

Trong thực tế, chỉ cần nhìn vào con số 100.000 doanh nghiệp phải giải thể và phá sản như một công bố của Ủy ban thường vụ Quốc hội vào đầu năm 2013, đã có thể thấy rằng con số này chiếm đến 18-20% tổng doanh nghiệp đăng ký hoạt động tại Việt Nam. Như vậy tỷ lệ thất nghiệp cũng có thể tương đương với 18-20%, tức gấp 10 lần con số báo cáo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội.

Vốn đã quá thờ ơ trước thực trạng xuống dốc của dân sinh trong những năm vừa qua, nhiều bộ ngành ở Việt Nam còn trở nên bàng quan hơn nữa trong không khí thực dụng đang phổ cập khắp nơi, từ thủ phủ đến từng làng xã. Người ta có thể nhìn thấy tình trạng tham nhũng quá phổ biến ở nhiều địa phương và các thành phố trung tâm, và tình trạng lộng quyền và lộng hành của không ít nhân viên công an…

Thất nghiệp và hoàn cảnh quá đỗi khó khăn lại càng làm cho người dân rơi vào tâm thế cùng quẫn. Sau một thời gian buộc phải im lặng, báo chí đã dồn dập đưa tin về những cái chết tự vẫn của người nghèo.

Chuyện chết chóc đã trở thành cơm bữa ở Việt Nam. Cùng với thái độ vô cảm của nhiều chính quyền địa phương là nạn bạo hành của công an ở nhiều tỉnh. Không ít cái chết trong trụ sở công an đã xảy ra, nhưng chưa một lần những người mặc sắc phục thừa nhận hành vi vi luật nghiêm trọng của họ.

Trong khi đó, làn sóng trưng thu đất đai và cưỡng chế dân oan khiếu kiện vẫn liên tục diễn ra ở nhiều địa phương với tính chất côn đồ hóa về sau này.

Vào năm 2012 và 2013, những dấu hiệu khủng hoảng kinh tế đã kéo theo những hiện tượng hỗn loạn xã hội. Dư luận đã chứng kiến về hành vi “chống người thi hành công vụ” của gia đình Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng, Hải Phòng vào đầu năm 2012 như một ngòi nổ, mô phỏng cho phong trào nông dân chống trưng thu ruộng đất một cách vô lối từ các nhóm lợi ích, và có một nét gì đó gần tương tự với trường hợp “rào làng” của làng Ô Khảm ở tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.

Cho đến gần đây, người ta liên tục chứng kiến việc một số nhóm lợi ích đã sử dụng côn đồ như một thủ đoạn để giải tỏa đất đai và “giải quyết” nông dân. Ở Ninh Bình hay Bắc Giang, người ta đang chứng kiến hàng trăm nông dân bất mãn đoàn kết với nhau để chống nạn côn đồ lộng hành, cùng hiện tượng dựng chiến lũy trong làng để chống những kẻ mà nông dân coi là “giặc”… Hoặc như hiện tượng  “biểu tình quan tài” ở Hưng Yên…

Tất cả những hình ảnh đó cho thấy điều gì, nếu không phải là sự bất lực, vô cảm của khá nhiều chính quyền địa phương mà đã đẩy người dân vào tư thế phản ứng tự phát không đáng có. Và hiện tượng tự phát như thế lại là tiền đề rất thường cho một hiện tượng rộng lớn và quy mô hơn hẳn: làn sóng bạo động và có thể cả bạo loạn có thể xảy ra, đẩy nhanh tình hình vào thế mất kiểm soát…

Buổi giao thời sắp đến

Hầu như không thể hoài nghi, xã hội và có lẽ cả nền chính trị Việt Nam đang dợm bước vào một buổi giao thời mang tính xoay chuyển trong lịch sử đương đại của chế độ, nếu lấy mốc thời gian từ năm 1975.

Còn nếu tính từ thời mở cửa đầu thập niên 1990 và sau các cuộc chính biến mà đã thay đổi căn bản về mối quan hệ xã hội nhà nước – công dân ở Liên Xô và Đông Âu cho đến nay, chưa bao giờ Việt Nam lại rơi vào một chu kỳ suy sụp kinh tế và kéo theo hàng loạt mầm mống phản ứng và biến loạn xã hội như hiện thời.

Tất cả những dấu hiệu như thế, cộng hưởng với bầu không khí cô đặc trì trệ về não trạng chính trị, nạn tham nhũng thâm căn và di căn, cùng những rạn nứt không thể phủ nhận trong nội bộ, đang biểu tả tính xu thế cho những biến động và thay đổi lớn lao về kinh tế, xã hội và có thể cả về tính tư tưởng ý thức hệ trong một tương lai không quá xa.

Scridb filter

]]>
http://phiatruoc.info/viet-nam-nhung-tien-de-khung-hoang/feed/ 0
Việt Nam: Các kịch bản thời sự sắp tới http://phiatruoc.info/viet-nam-cac-kich-ban-thoi-su%cc%a3-sap-toi/ http://phiatruoc.info/viet-nam-cac-kich-ban-thoi-su%cc%a3-sap-toi/#comments Mon, 26 Aug 2013 16:11:30 +0000 tapchiphiatruoc http://phiatruoc.info/?p=11648 Phạm Chí Dũng
Trích từ BBC

Một “triển vọng” đang ngày càng rõ dần là bối cảnh xã hội Việt Nam đang gần hoàn tất giai đoạn vận động thứ hai của nó, nếu lấy mốc từ thời điểm mở cửa kinh tế những năm 1990.

VN-4Trước đó, giai đoạn vận hành đầu tiên kéo dài từ năm 1975 đến hậu khủng hoảng giá – lương – tiền.

Nhưng cho tới giờ, ở Việt Nam hầu như chưa hình thành một lực lượng đối lập, chưa mang tính đối trọng đủ lớn đối với chính quyền để ít nhất có thể tác động nhằm điều chỉnh một số chính sách và hoạt động thực hành chính sách.

Những tiền đề đối trọng ở Việt Nam cho tới nay vẫn chỉ là phong trào phản biện xã hội đa dạng và đa tầng, thể hiện chủ yếu qua ý kiến chứ không phải bằng những hành động sâu xa hơn.

Ngoài nhóm “Kiến nghị 72” và vài nhóm blogger, đa phần còn lại là những cá nhân phân tán và hoạt động manh mún.

Tác động của hoạt động bất đồng chính kiến đối với chế độ chỉ có ý nghĩa như một xúc tác phụ.

Nếu không được tác động sâu sắc bởi hành động của lực lượng đối trọng, hoặc không có một số tác động vừa thuyết phục vừa áp lực về chính sách kinh tế, quân sự và chính trị, ngoại giao từ Mỹ và phương Tây, nền chính trị Việt Nam sẽ do chính nội bộ trong lòng nó quyết định.

Mọi chuyện ở Việt Nam đang diễn ra theo một quy luật: vô cảm quan chức tỷ lệ thuận với tham nhũng và quyền lợi của nhóm lợi ích.

Thời gian suy thoái kinh tế từ đầu năm 2011 đến nay đã cho thấy một hiện tượng xã hội rất đặc trưng: bất chấp sự phản ứng và tâm trạng phẫn uất của nhiều tầng lớp nhân dân, nhiều nhóm lợi ích và chủ nghĩa thân hữu vẫn liên kết đầy se sắt, hòa quyện vào nhau với độ kết dính như thể bám víu vào sự tồn tại cuối cùng.

Người ta có thể nhìn ra rất nhiều minh chứng cho thái độ bất chấp đó từ những cú làm giá không tiền khoáng hậu của các nhóm đầu cơ bất động sản, chứng khoán và vàng, kể cả những nhóm lợi ích có quyền lợi can dự như điện lực và xăng dầu.

Song song với trào lưu lợi ích ấy, cũng có nhiều bằng chứng về hoạt động chạy chính sách vì đặc quyền đặc lợi cho “tư sản đỏ”.

Tác động ở tầm mức mạnh mẽ nhất của người dân và xã hội đối với thể chế cầm quyền ở Việt Nam nhiều khả năng sẽ được quyết định bằng việc có hay không mối cộng hưởng của một cuộc khủng hoảng kinh tế ở chính đất nước này.

Trong 2-3 năm nữa thôi, chính đảng cầm quyền ở Việt Nam sẽ có thể phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng kinh tế với hậu quả chưa có tiền lệ tính từ giai đoạn lạm phát tăng đến 600% vào những năm giá – lương – tiền 1985-1986.

Những kịch bản kinh tế – chính trị

Kịch bản 1: Trong trường hợp cuộc suy thoái kép hoặc khủng hoảng kinh tế thế giới chưa nổ ra vào những năm tới, và do vậy nền kinh tế Việt Nam vẫn có thể trì kéo tấm thân băng hoại rệu rã của nó, tình thế vẫn chưa diễn ra một sự thay đổi đủ lớn.

Những phản ứng tự phát của dân hiện không mang tính hệ thống và hình thành các liên kết sâu rộng và thường thể hiện bằng biểu tình, thậm chí bạo động cục bộ vẫn có thể bị chính quyền phong tỏa và đàn áp.

Tiếng nói của các nhóm trí thức dân chủ và kể cả những nhóm chính trị có mục tiêu đối kháng và triển khai bằng hành động sẽ chỉ đóng vai trò xúc tác mà không thể hiện tính dẫn dắt cho một phong trào đối lập nhằm thay đổi thể chế.

Kịch bản 2: Trong trường hợp xảy ra suy thoái hoặc khủng hoảng kinh tế thế giới, những lô cốt cuối cùng của nền kinh tế Việt Nam sẽ có thể bị tàn phá cùng nhiều hệ lụy trực tiếp.

Vốn đang nằm trong xu thế không chỉ suy thoái gần như toàn diện nội lực trong nước mà còn quá kém hiệu quả trong cơ chế xuất khẩu và chịu ảnh hưởng không nhỏ từ làn sóng thoái vốn đầu tư nước ngoài, Việt Nam sẽ nhanh chóng rơi vào tình thế bĩ cực không lối thoát. Một cuộc khủng hoảng toàn diện đối với nền kinh tế Việt Nam cũng từ đó mà khởi phát.

Cuộc khủng hoảng có thể như thế còn cần được tính thêm một yếu tố cộng hưởng rất “láng giềng”: Trung Quốc.

Nếu hệ lụy khủng hoảng kinh tế thế giới được bắt nguồn từ khủng hoảng của kinh tế Trung Quốc, Việt Nam sẽ phải chịu hiệu ứng kép: một do suy thoái kinh tế giai đoạn cuối, một do động loạn từ Trung Quốc.

Trong cả hai yếu tố hiệu ứng tác động đó, xã hội Việt Nam đều có thể rơi vào vòng bế tắc. Nền kinh tế vốn đã què quặt, cộng thêm nhân tố rối loạn xã hội, sẽ khiến cho chính thể cầm quyền hết sức khó khăn trong việc duy trì quyền lực của mình để kiểm soát xã hội.

Phản ứng của nông dân về đất đai, của công nhân về nạn thất nghiệp và điều kiện làm việc, của tiểu thương về buôn bán, của công chức và giới về hưu về an sinh xã hội… sẽ liên tiếp xảy ra với quy mô ngày càng rộng.

Phản ứng của người dân đối với nhân viên công quyền cũng sẽ diễn ra dày đặc và mang tính tự phát với tính đối đầu nhiều hơn, ban đầu tản mạn và tự phát, sau đó sẽ có xu hướng liên đới để hình thành những phong trào, kể cả tổ chức phản kháng, của nông dân, công nhân, trí thức và với cả một số tôn giáo như Công giáo, Phật giáo Hòa hảo thuần túy, Tin Lành.

Kịch bản về không gian phản ứng và phản kháng sẽ có thể bắt nguồn từ nông thôn miền Bắc với nông dân, thậm chí ngay tại Hà Nội với thành phần trí thức, sau đó lan rộng ra các khu vực khác của đất nước như miền Trung, Tây Nguyên và một số tỉnh ở miền Tây Nam Bộ.

Trong một số trường hợp phản ứng xã hội đặc biệt sâu sắc về nguyên nhân và tính chất, bạo động và có thể cả bạo loạn sẽ xảy ra.

Đó là chưa kể đến những hoạt động phản ứng riêng rẽ và có tổ chức chặt chẽ hơn nhiều của các tôn giáo có xu hướng ly khai với nhà nước, trong đó có một phần Công giáo, Tin lành, Phật giáo Việt Nam thống nhất và Phật giáo Hòa hảo thuần túy.

Gần như trái ngược với Kịch bản 1, xác suất suy thoái kép hoặc khủng hoảng của kinh tế Việt Nam trong Kịch bản 2 có thể lên đến ít nhất 70% trong những năm tới. Và dĩ nhiên, sự đổi khác chính trị cũng phải liền mạch và trực tiếp với các biến động kinh tế.

Lối thoát từ TPP?

Cuộc suy thoái hoặc khủng hoảng kinh tế thế giới, nếu xảy ra với xuất phát điểm từ Trung Quốc, có thể rơi vào thời gian hai năm 2016-2017. Đó cũng là thời gian chứng nghiệm những nỗ lực cuối cùng và mang tính quyết định cho sự tồn tại của đảng Cộng sản Việt Nam.

Nếu không tự thay đổi, và hơn nữa phải cải cách một cách gấp rút theo hướng hạn chế quyền lợi của các nhóm lợi ích và nhóm thân hữu, đồng thời gia tăng mối quan tâm thực tế cho các tầng lớp dân sinh, trong đó đặc biệt là nông dân và công nhân, cũng như thực thi quyền tự do dân chủ về ngôn luận, báo chí và tôn giáo một cách đúng nghĩa…, đảng cầm quyền sẽ vấp phải một thử thách mà có thể xác quyết sự tồn vong của chính nó.

Một trong rất ít lối thoát để thoát khỏi vòng xoáy kinh tế – chính trị là TPP – Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương. Thế nhưng, điều quá rõ ràng là trong hiện tình, TPP chỉ có thể được sinh sôi ra từ lòng thành chính trị, tương ứng với các điều kiện về dân chủ và nhân quyền.

Cơ hội để “thoát Trung” cùng vô số nguy cơ về an ninh Biển Đông có thể được giải thoát bởi người Mỹ.

Nếu tận dụng cơ hội này, với điều kiện phải thể hiện được bản lĩnh của mình trong mối giao hòa với tâm cảm của đại đa số người dân trong nước và mục tiêu chiến lược địa chính trị của phương Tây, chính đảng cầm quyền sẽ có được cơ hội tránh thoát một phần ảnh hưởng của Bắc Kinh, trong khi nhận được sự hậu thuẫn của Washington và Cộng đồng châu Âu.

Cuộc khủng hoảng kinh tế tiềm tàng ở Việt Nam cũng do đó có thể sẽ được khuôn hẹp với những hậu quả không quá lớn.

Nếu thành công trong cơ chế “xoay trục” sang phương Tây, chính đảng cầm quyền ở Việt Nam dù có phải “trả giá” bằng một chế độ cởi mở hơn về dân chủ nhân quyền và chấp nhận sự tồn tại của một hình ảnh mang tính trang trí về một xã hội dân sự manh nha tại đất nước này, kể cả việc phải chấp nhận một lực lượng đối lập ôn hòa…, vẫn có thể duy trì được quyền lực một đảng chi phối và quyền lợi của giới lãnh đạo thêm một thời gian nào đó.

Scridb filter

]]>
http://phiatruoc.info/viet-nam-cac-kich-ban-thoi-su%cc%a3-sap-toi/feed/ 0
Nỗi hổ thẹn của báo chí nhà nước http://phiatruoc.info/noi-ho-then-cua-bao-chi-nha-nuoc/ http://phiatruoc.info/noi-ho-then-cua-bao-chi-nha-nuoc/#comments Tue, 20 Aug 2013 18:26:18 +0000 tapchiphiatruoc http://phiatruoc.info/?p=11620 Phạm Chí Dũng
Trích từ VOA

Hôn mê

Gần hết trong hơn 700 tờ báo nhà nước ở Việt Nam vẫn như đang hôn mê trong nỗi hổ thẹn từ tiềm thức đến vô thức, trong bối cảnh chưa bao giờ xã hội lại cần đến tiếng nói phản biện của báo chí như hiện tình.

Bao chiVới gần hết đội ngũ tổng biên tập và cả phó tổng biên tập đã được “cơ bản tái cơ cấu”, không có mấy phóng viên nhiệt thành nào lèn được bài viết phản ánh thực tồn xã hội ngổn ngang lên mặt báo.

Cách đây không lâu, báo Thanh Niên suýt bị khởi tố vì mạo phạm Ngân hàng nhà nước qua bài “Rửa vàng”. Còn trước đó, việc bắt và xử tù phóng viên Hoàng Khương của báo Tuổi Trẻ đã gần như đặt dấu chấm hết cho lớp nhà báo muốn phanh phui câu chuyện “núp lùm” của cánh cảnh sát giao thông.

Hơn một năm đã trôi qua kể từ quý 2 năm 2012 – được xem là cơn thủy triều thình lình của báo chí chính thống với hơn 2.000 bài viết khắc họa về chân dung “Người nông dân nổi dậy” Đoàn Văn Vươn, một phần rất lớn các tờ báo nhà nước lại trở về thế nằm cam chịu dưới vô số “chỉ đạo định hướng” của Ban tuyên giáo trung ương và Bộ Thông tin và Truyền thông.

Những định hướng của các cơ quan tuyên giáo và quản lý báo chí lại ngày càng bốc đồng tính xu thời cùng với thời vận quốc gia lâm nguy trong cơn hoạn nạn về tham nhũng, nhóm lợi ích, suy thoái kinh tế, sa sút đạo đức, tệ nạn xã hội…

Bất chấp một số bài viết lên án sự vô cảm của đồng loại, báo chí vẫn hiển hiện như một mặt trận vô cảm không thua sút. Những nội dung phổ biến mà độc giả trong nước được thưởng ngoạn trên báo chí chính thống vẫn rất thường là các tin tức giật gân, câu khách, hay nói như dân gian là logic “cướp giết hiếp”… hẳn có mấy tờ báo còn đủ tự trọng để đánh động dư luận về những chuyện bất công xã hội vốn đang đầy rẫy ở xứ sở được Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan tự tin “dân chủ gấp vạn lần tư sản”.

Đã từ hai năm qua, Vietnamnet – một trong những tờ báo điện tử có uy tín và thu hút được lượng truy cập lớn nhất Việt Nam – đã gần như đánh mất bản sắc phản biện của mình. Người ta không còn nhận ra sắc diện cống hiến trên mục Tuần Việt Nam và ở cả những chuyên mục xã hội, kinh tế của tờ báo này. Sau khi báo điện tử Tầm Nhìn bị đóng cửa vào tháng 7/2012, loại bài như “Mùa xuân Myanmar” trên Vietnamnet đã khiến những tác giả của nó không chốn dung thân.

Tương tự, những tờ báo đã từng tỏa hơi ấm nhân bản đồng loại trong vụ Tiên Lãng vào đầu năm 2012 như Giáo Dục Việt Nam, Dân Việt, Người Lao Động, Pháp Luật TP.HCM, Sài Gòn Tiếp Thị… cũng như lắng tiếng trong một tâm trạng mỏng manh chân đứng.

Quá nhiều chuyện cần được nói và cần phải tiết lộ, nhưng lại quá ít can đảm để thoát khỏi vòng kim cô. Những bài báo hiếm hoi về thực trạng quá sức bất công trong thu hồi đất đai ở một số địa phương thi thoảng mới được phản ánh trên báo Nông Nghiệp Việt Nam, cùng vài ba tờ khác với hàm lượng khiêm tốn hơn nhiều. Song qua cái số hiếm hoi ấy, độc giả vẫn chưa thể nhận ra một sự thật chính đáng nhất: nguồn cơn gây ra bất công và thái độ thích đáng đối với trách nhiệm của cá nhân lãnh đạo cùng các cơ quan điều hành quản lý liên quan.
 
“Đừng nấp trong gấu áo của nhân dân”

Suốt nhiều năm qua, không một quan chức cao cấp nào từng công khai vi hành ở các chợ búa và các vùng sâu, vùng xa, nơi những đứa trẻ phải bắt chuột thay cơm và ở những nơi mà sức chịu đựng của người dân đang tiệm cận giới hạn cuối cùng của sự kiệt lực.

Thế nhưng, trước tất cả những cảnh trạng ngang ngược chưa từng thấy của các nhóm lợi ích độc quyền, giới công luận ở Việt Nam vẫn chỉ dám hô hấp một cách hổn hển. Khi thời gian giữa năm 2013 buộc phải chứng nhận ba cú tăng giá xăng dầu và một lần phóng giá điện lực làm náo loạn xã hội, đa phần các bài báo vẫn chỉ chạm khẽ vào hiện trạng giá cả tăng làm ảnh hưởng đến đời sống dân sinh và lạm phát. Họa hoằn mới có một tờ báo phỏng vấn những chuyên gia độc lập như Ngô Trí Long, Nguyễn Minh Phong để hé ra đôi chút tính phản biện đối với chính sách tăng giá vô tội vạ. Nhưng những bài báo đó lại quá ít ỏi so với phong trào phản biện chống tăng giá điện và xăng dầu trên báo chí lề phải vào cuối năm 2011, và càng không thể so sánh với gánh ì của trên 17.000 người viết báo có thẻ ở Việt Nam.

Thật hiếm hoi, một tờ báo nhỏ như Văn Hóa Nghệ An vào tháng 8/2013 đã khơi dậy tinh thần phản kháng còn sót lại trong tâm khảm những người viết báo đối với nhóm lợi ích: “Nếu cần gì hãy cứ nói thẳng với Nhân Dân. Nhân Dân chưa bao giờ tiếc một cái gì, kể cả mạng sống vì Đất nước. Hãy minh bạch đối diện với Nhân Dân, đừng nấp trong gấu áo của Nhân Dân để phục kích, làm hại Nhân Dân”.

Cũng còn những cuộc “phục kích” khác…Những năm qua, nghe nói còn có cả những chỉ thị của Ban tuyên giáo trung ương và Bộ Thông tin Truyền thông đối với báo chí về một “vùng cấm” nào đó trong việc đưa tin viết bài về chuyện độc quyền tăng giá, cả về chuyện “tránh để các thế lực thù địch lợi dụng”.

Một nhà báo giấu tên còn cho biết những hành xử ẩn lộ trong mấy năm gần đây của các cơ quan quản lý báo chí đã khiến cho giới phóng viên sinh ra không ít nghi vấn về một mối quan hệ “đi đêm” nào đó giữa các nhóm lợi ích và các cơ quan chỉ đạo báo chí – như hiện tượng đã từng bị dư luận dị nghị không ít lần trong quá khứ. Nhiều người cũng còn nhớ việc một nhà báo đã tố cáo một quan chức tuyên giáo nhận “lại quả” lên đến vài chục ngàn USD xảy ra những năm về trước…

Tiền bạc có thể tạo ra truyền thông nhưng cũng dễ làm cho báo chí phải ngậm miệng. Chưa bao giờ tính nghi ngờ của giới phóng viên lại cao độ như vào lúc này, khi họ liên tục nhận được các chỉ thị bất bình thường từ hệ thống tuyên giáo liên quan đến những “vùng kín” đắt đỏ.

“Định hướng”, “nhắc nhở”, “phê bình”, “kiểm điểm”, “kỷ luật”, “phạt hành chính”… có lẽ mới là ngôn luận chính thống của một nền báo chí được xem là chính thống. Hàng tuần và hàng tháng, cơ quan tuyên giáo và quản lý truyền thông ở cấp trung ương và ít nhất hai thành phố lớn Hà Nội và TP.HCM vẫn miệt mài vận động với não trạng lê mòn không đổi khác.

Không có lấy một lối thoát khả dĩ cho báo chí trong việc lên tiếng đánh thức lương tâm và chế ngự tính vô cảm tràn lan trong xã hội. Những phóng viên có nghề và có tâm huyết dần dần bỏ viết, rời khỏi báo, trong khi những nhà báo trẻ kế cận lại chưa thể kế thừa kinh nghiệm và phong cách của lớp đi trước. Còn lại, đại đa số hàng ngũ tổng biên tập mới chính là một dấu ấn đặc trưng cho “nhà báo quan chức” hoặc “trí thức cận thần” khép miệng trùm mền.
 
Cơ hội và “dũng khí”

Không hoặc chưa thể vượt qua nỗi sợ hãi đang chế ngự chính mình, phần lớn nhà báo quốc doanh đang để vuột khỏi tay họ điều được gọi là lương tâm nghề nghiệp.
 
Báo chí nhà nước cũng đang dần mất đi cơ hội ngang bằng phải lứa, ít nhất trên phương diện tin tức, so với giới truyền thông xã hội.

Vài cuộc hội thảo, tọa đàm gần đây đã gián tiếp xác nhận trong số hơn 30 triệu người dùng Internet ở Việt Nam, lượng người truy cập vào truyền thông xã hội đã tăng vọt theo cấp số nhân, chuyên chú vào nhiều sự kiện thời sự mà báo chí “lề phải” đã không tự nguyện dấn thân.

Dù vẫn bị những báo cáo nội bộ nào đấy đánh giá là “phản động”, không ít trang mạng xã hội như Basam, Bauxite Vietnam, Quechoa, Chuacuuthe… đang có xu hướng chuyên nghiệp hóa báo chí, với đội ngũ cộng tác viên được tăng trưởng về số lượng và nâng tầm về nghiệp vụ. Nhưng điều rõ ràng nhất có lẽ là các trang này đã không ít lần dám công khai những chủ đề và vấn đề chính trị – xã hội mà giới báo chí nhà nước hầu như không dám đụng đến. Có lẽ, đó cũng là một đặc tính riêng cần khắc họa khi bàn về cái được gọi là “dũng khí báo chí”.

Điều đáng tiếc không kém cho giới báo chí quốc doanh là họ đã không nắm bắt được cơ hội ngay cả khi có dịp may. Bởi từ đầu năm 2013, những điều kiện về đối ngoại chính trị và phản ứng lẫn phản kháng đối nội đã tỏ ra khởi sắc hơn hẳn bối cảnh năm ngoái, đặc biệt là tiếng nói phản biện của giới nhân sĩ, trí thức độc lập ngày càng mạnh mẽ.

Chưa bao giờ truyền thông xã hội lại quyết đoán như hiện nay.

Tuy thế, nghe nói tại nhiều tòa soạn báo quốc doanh vẫn luôn tồn đọng một danh sách những tác giả bị cấm cản. Bài viết của những trí thức từng có tên tuổi trên truyền thông quốc tế như Tương Lai ở Sài Gòn hay Nguyễn Quang A ở Hà Nội lại luôn là “đối tượng” bị ngăn chặn như vậy.

Dù phía trước là cơ hội đang mở ra cho báo chí nhà nước, cơ hội về thông tin và quan trọng hơn là cơ may để bình luận về các sự kiện thời sự, đặc biệt là mối quan hệ Việt – Mỹ đang bớt lạnh giá, nhưng điều rõ ràng là hiện chỉ có quá ít cây bút bình luận mang tính khách quan và độc lập, nếu không tính tới đội ngũ “ngoại giao đoàn” ở các báo đảng quen thuộc như Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân.

Cũng chưa cần xét đến nội trị, mối quan hệ đối ngoại giữa nhà nước Việt Nam với Hoa Kỳ và Cộng đồng châu Âu sẽ có thể không được mặn mà theo đúng nghĩa của nó, một khi chính giới quốc tế vẫn chán nản về chuyện giới truyền thông nhà nước Việt Nam còn lâu mới đủ dũng khí để phản biện những vấn đề bất công và bất bình đẳng gay gắt của xã hội, cũng như vẫn chưa “hòa hợp” với giới nhân sĩ trí thức trung lập ôn hòa.

Một nhà báo ở Sài Gòn cảm thán: “Việt Nam đang ‘tự do báo chí’ theo kiểu cách không giống ai. Một nền báo chí chỉ đạo tập trung hóa như vậy mà đòi thâm nhập vào cả Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc sao?”.

Scridb filter

]]>
http://phiatruoc.info/noi-ho-then-cua-bao-chi-nha-nuoc/feed/ 0
Thủ tướng Dũng có cứu vãn được kinh tế Việt Nam? http://phiatruoc.info/thu-tuong-dung-co-cuu-van-duoc-kinh-te-viet-nam/ http://phiatruoc.info/thu-tuong-dung-co-cuu-van-duoc-kinh-te-viet-nam/#comments Tue, 13 Aug 2013 19:26:22 +0000 tapchiphiatruoc http://phiatruoc.info/?p=11577 TS Phạm Chí Dũng
Theo VOA

Chỉ trong khoảng thời gian thoi đưa gần ba năm – từ 2011 đến nay, nền kinh tế Việt Nam đã sa chân vào cửa tử với hố đen khủng hoảng há rộng chực chờ. Chưa bao giờ trong lịch sử của thể chế đương đại, các nhóm lợi ích lại lộ hình tác quái ghê gớm và “quyết tâm” đến thế.

Nguyen Tan Dung-4Tiêu biểu cho hoạt động lợi ích nhóm là ba thể loại chủ chốt: nhóm lợi ích đầu cơ như vàng, chứng khoán, bất động sản và một bộ phận ngân hàng; nhóm lợi ích độc quyền như xăng dầu, điện lực; nhóm lợi ích “sự nghiệp kinh doanh” như Vinashin, Vinalines…

Trong một lần quá hiếm hoi bên lề phải, tờ Văn hóa Nghệ An mới đây đã rút tít: “Các nhóm lợi ích, đừng nấp áo Nhân Dân để phục kích Nhân Dân”.

Chỉ sau tiếng chuông báo động réo vang thảng thốt từ tuyệt đại đa số tầng lớp thu nhập thấp và trung bình của xã hội, một bộ phận nho nhỏ trong chính giới mới âm thầm thừa nhận hiện trạng kinh tế đã bị thao túng bởi những nhóm lợi ích “vô hình” nào đó, cũng như tình hình kinh tế “không quá lạc quan”.

GDP là một trong những thông số tiêu biểu cho nỗi cám cảnh chưa có nơi nương tựa ấy.
 
GDP “suy thoái tư tưởng”

Nếu vào các năm 2009 – 2011, chỉ số GDP còn đạt ở mức “quyết tâm” của Bộ chính trị, Chính phủ và Quốc hội là 9-9,5%, thì những năm sau đó, quyết tâm này cũng bị suy thoái một cách không thể duy ý chí hơn.

Đến cuối năm 2011, hầu hết mọi người đều nhận ra là nền kinh tế đã quá khó khăn, con số phá sản của doanh nghiệp đã lên đến ít nhất 50.000. Không còn cách nào khác, người ta buộc phải thừa nhận GDP “năm sau sẽ không bằng năm trước”.

Tuy nhiên, đến lúc này và khác hẳn với năm 2009, đã không còn một gói kích cầu nào đủ lớn. Tiền chạy đâu hết rồi? Không người dân nào biết. Chỉ biết rằng Ngân hàng nhà nước và các ngân hàng thương mại cổ phần vẫn nắm giữ huyết mạch kinh tế của đất nước và vẫn ung dung hưởng thụ núi lợi nhuận tích lũy của họ, trong khi số doanh nghiệp “tử trận” đã lên đến ít nhất 100.000, theo con số báo cáo chính thức của Ủy ban thường vụ quốc hội vào đầu năm 2013.

Trong thực tế, con số phá sản và giải thể của doanh nghiệp có thể còn lớn hơn khá nhiều. Một ước tính của giới chuyên gia, xuất phát từ tình trạng có đến 200.000 doanh nghiệp không có khả năng nộp thuế, đã ước tỷ lệ phải ngưng hoạt động của doanh nghiệp có thể chiếm đến 1/3 trên tổng số gần 600.000 doanh nghiệp đăng ký hoạt động tại Việt Nam.

1/3 cũng là một khả năng có thể xảy ra đối với hiện trạng thất nghiệp toàn phần và có nguy cơ thất nghiệp ở Việt Nam, cho dù báo cáo của Bộ lao động, thương binh và xã hội chỉ luôn thừa nhận tỷ lệ này khoảng 2%.

Nền kinh tế Việt Nam đã phải gánh chịu hình dạng lõm toàn phần, khi công tác điều hành “linh hoạt và uyển chuyển” đối với nó đã phạm nhiều sai lầm và còn liên quan đến cả những nhóm lợi ích và nhóm thân hữu.

Nhưng thế đi xuống theo dạng parabol lõm của nền kinh tế Việt Nam vẫn chưa phản ánh toàn bộ thực trạng, bởi hoạt động thống kê số liệu ở Việt Nam là rất đáng bị hoài nghi về mức độ trung thực và tính minh bạch.
 
Giả số liệu?

Vào năm 2012, Quốc hội đã phải chấp nhận tỷ lệ tăng trưởng GDP dừng ở mức “khiêm tốn” là 6 – 6,5%; còn vào năm 2013 là khoảng 5%. Nhưng như vậy vẫn là quá triển vọng, nếu so với mặt bằng tăng trưởng GDP bình quân của nhiều nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp; và ngay cả đầu tàu kinh tế châu Âu là Đức cũng chỉ khoảng 2,5-3% – một kết quả được xem là đáng mừng trong thời buổi suy thoái và luôn chực chờ nguy cơ khủng hoảng kép.

Một số chuyên gia kinh tế độc lập có hàm lượng phản biện cao của Việt Nam như Lê Đăng Doanh, Nguyễn Quang A và sau này có cả chuyên gia đương chức Trần Đình Thiên đã nêu nhiều dẫn chứng cho thấy thực tế chỉ số thực về GDP ở Việt Nam không tăng đến mức như báo cáo, và nếu có như báo cáo thì chỉ là bản sao của cái gọi là “mức tăng trưởng 7-8% của GDP” Trung Quốc mà thôi. Hiện trạng này cũng gần tương tự như việc giáo sư Lang Hàm Bình – một chuyên gia phản biện độc lập của Trường đại học Hồng Kông – đã cho rằng những số liệu về GDP và lạm phát ở Trung Quốc đều là giả.

Vào giữa năm 2013, một chuyên gia phương Tây cũng cho rằng về thực chất, GDP của Trung Quốc chỉ vào khoảng 3,7% chứ không phải gần 8% như con số được công bố hiện thời. Còn trước đó, chuyên gia phản biện Vũ Quang Việt đã tính toán GDP của Trung Quốc chỉ vào khoảng 1-2%.

Kinh tế Trung Quốc và kinh tế Việt Nam lại có nhiều nét đặc biệt giống nhau – trong quá khứ, hiện tồn và có thể cả về tương lai. Nếu căn cứ vào độ chênh giữa số thực tế và số báo cáo của Trung Quốc, nền kinh tế Việt Nam đang không phải tăng trưởng đến 5% hay 5,5%, mà thực chất chỉ nhỉnh hơn 0% một chút.
 
“Thập kỷ mất mát”?

Vậy Việt Nam còn gì để hy vọng?

Điều có thể an ủi là không phải đồ thị kinh tế Việt Nam đã, đang và sẽ lao dốc một cách thẳng thừng và liên tục. Theo quy luật thường thấy, hình thể parabol lõm thường làm nên một giai đoạn hồi phục nhẹ, trở thành parabol lồi – hiện tượng có thể xảy ra vào hai năm 2013 – 2014, bắt đầu từ việc Chính phủ và Ngân hàng nhà nước bắt buộc phải thúc đẩy hạ các loại lãi suất và bơm tiền cho nền kinh tế. Tiền được bơm ra càng nhiều, nền kinh tế sẽ càng nhanh phục hồi.

Tuy nhiên, từ khái niệm phục hồi này đến yêu cầu về một nền kinh tế phát triển bền vững vẫn còn một khoảng cách rất xa, hoặc gần như ảo tưởng. “Tiền được đẩy ra nhiều nhất trong một thời gian ngắn nhất” vẫn là bài học đắng ngắt của hai nền kinh tế Trung Quốc và Việt Nam trong giai đoạn 2007-2010.

Bởi sau giai đoạn phục hồi tạm bợ 2013 – 2014, nếu huyết mạch kinh tế Việt Nam không được gia cố các mao mạch, nó sẽ tiếp tục lao dốc. Liên quan đến hình ảnh này, có thể kiểm nghiệm lại đồ thị lao dốc của nền kinh tế Mỹ và chỉ số chứng khoán Dow Jones vào nửa cuối năm 2008 để có thể xác nghiệm một bài học rất cận kề cho nền kinh tế Việt Nam.

Hoặc xa hơn nữa nhưng lại có vẻ ngày càng gần gũi với Việt  Nam, đó là cuộc Đại khủng hoảng năm 1929-1932 ở Hoa Kỳ, khi chỉ số Dow Jones mất đến 90% và tỷ lệ thất nghiệp tăng trên 20%.

Nếu kịch bản khủng hoảng tài chính 1997 ở vùng Đông Nam Á tái hiện ở Việt  Nam, cuộc Suy thoái năm 2008 tại quốc gia hình chữ S chắc chắn mới chỉ là bước dạo đầu của “Thời kỳ mất mát”.

Cần nhắc lại, khi thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản ở Việt Nam phục hồi phần nào vào năm 2009, một số chuyên gia đã vội vã cho đó là hình dạng hồi phục chữ V của nền kinh tế Việt Nam. Nhưng thực ra đã chẳng có chữ V nào hết. Ngoại trừ thị trường vàng vẫn còn giữ giá cao nhưng thanh khoản lại sụt giảm đến mức báo động, ẩn dụ được dành cho thị trường bất động sản và thị trường chứng khoán là “chết lâm sàng”.

Ông Cao Sỹ Kiêm, nguyên thống đốc Ngân hàng nhà nước và hiện là Chủ tịch Hiệp hội DN nhỏ và vừa Việt Nam, mới đây đã nhận định: nền kinh tế đã rơi xuống đáy và đang ở đáy chữ U. Việc thoát khỏi đáy rất khó khăn do thiếu điểm tựa và sức mạnh. Nếu không có đột phá thì tình trạng đáy chữ U cứ kéo dài ra mãi là khó tránh khỏi.

Vì sao thế? Có lẽ đúng như nhà kinh tế Lê Đăng Doanh nhận xét, lấy mốc từ năm 1991, chưa bao giờ tình hình kinh tế – xã hội ở Việt Nam lại xấu như hiện nay. Không thể nói khác hơn là một cuộc suy thoái đang trở lại. Hoặc chính xác hơn, đây có thể là một cuộc khủng hoảng được dạo nhịp đầu tiên của nó.
 
Chữ L?

IMF vẫn đang cảnh báo nước Mỹ có thể rơi vào một “thập kỷ mất mát” như người Nhật đã từng bị như thế vào những năm 80 của thế kỷ trước.

Còn ở Việt Nam, “Thời kỳ mất mát” có thể kéo dài nhiều năm, thậm chí rất nhiều năm, sau chuỗi tăng trưởng quá nóng trong suốt 20 năm – từ 1991 đến 2011.

Thực tế cho đến nay, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã tạo nên cơn dư chấn ở Việt Nam dài đến 5 năm. Nhưng ngay tại thời điểm này, có lẽ nhiều người nhận ra rằng 5 năm chưa phải màn cuối của vở bi kịch. Trong khi, những năm tiếp theo với tình thế khó khăn, hoặc còn lâu hơn thế, là một khả năng “trong tầm tay”. Khi đó, “Thập kỷ mất mát” có thể ứng nghiệm với trường hợp Việt Nam.

Cho tới giờ, đã có thể nhận ra đường biểu diễn vận động của nền kinh tế Việt Nam từ giai đoạn 2006-2007 đến nay nghiêng về hình thể L hơn là sự phục hồi tự tin của chữ V hay chậm chạp nhưng bền vững của chữ U.

Gần như chắc chắn, L là sắc thái không thể tránh được cho một thời kỳ ngưng trệ và lộn xộn mới về kinh tế – chính trị ở đất nước này.

Và có thể, biểu đồ lao dốc của nền kinh tế Việt Nam chỉ dừng lại vào năm 2016 – 2017, tức đến lúc đó nền kinh tế mới thật sự nhìn ra cái đáy của chính nó.

Dự báo trên liệu có quá bi quan? Biết làm sao được, tất cả đang lệ thuộc quá nhiều vào cái hiện tồn chưa có lối ra hiện nay.

Kinh tế lại phụ thuộc rất nhiều vào những biến động chính trị. Dĩ nhiên, ai cũng biết chính trị có ổn định thì kinh tế mới phát triển. Còn không thì ngược lại…
 
Chính phủ và thủ tướng?

Điều bất hạnh cho Việt Nam là quốc gia này đã không thể có một tổng thống Mỹ đầy quyết tâm như Barak Obama – một quyết tâm đầy trong sáng, người đã giữ nguyên mức chi an sinh xã hội và y tế dù vào thời kỳ đầy khó khăn; và cũng không có được một Bernanke của Cục dự trữ liên bang – người có đủ tài và tâm điều hành chính sách tài chính.

Điều bất hạnh hơn là trong bối cảnh nền kinh tế suy thoái gần như toàn diện, tài nguyên bị khai thác cạn kiệt và lòng dân quá bất an cùng bất mãn, các nhóm lợi ích lại vẫn tồn tại một cách đầy thách thức và trở thành những ông vua không ngai trên đầu dân nghèo.

Một nghiên cứu ở Mỹ đã so sánh chu kỳ hoạt động của động đất với chu kỳ của những cơn “địa chấn” về chính trị trong chính trường nước Mỹ. Có thể ở Việt Nam, mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị cũng gần tương tự. Điều chắc chắn thấy rõ từ năm 2007 đến nay là đồ thị đi xuống của kinh tế, nhưng không hẳn là parabol lõm, mà có thể được xen kẽ bởi một giai đoạn lao dốc.

Cần đặc biệt lưu ý, đồ thị lòng dân và niềm tin chính trị cũng có thể biến diễn như thế.
Vậy ai có thể cứu vãn được nền kinh tế khốn khổ đang lao dốc này?

Với gần như toàn bộ quyền lực hành pháp trong tay, đáp án cho câu hỏi trên chỉ thuộc về chính phủ và những cá nhân lãnh đạo nó.

Vậy những công việc còn lại mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có thể làm là gì?

Ít ra, chính phủ của ông cần có một gương mặt mới trong một khung cảnh mới – một không gian mà công dân và đặc biệt là người nghèo có thể phục hồi phần nào sinh khí đối với niềm tin chính thể. Tất cả nhằm làm nhòa nhạt một dĩ vãng điều hành kinh tế – xã hội bị xem là thất bại với quá nhiều hậu quả và lợi ích nhóm.

Trong sâu xa, lòng dân và nhiệt huyết cống hiến dân tộc của công dân vẫn còn nguyên đó, chưa hề mất mát, chỉ là chưa ai biết cách khơi dậy tính đồng nguyên của nó mà thôi.

Những lối thoát cho kinh tế Việt Nam cũng vẫn còn nguyên giá trị, từ Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, Tổ chức thương mại thế giới đến tương lai có thể hứa hẹn cho Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương, trong đó không thể bác bỏ hơi ấm từ bàn tay người Mỹ – tất cả vẫn còn chừa ra một cơ hội cho chính thể và những chính khách không lạc hậu với thời cuộc.

Uy tín và chỗ đứng của những người lãnh đạo cao nhất của chính phủ cũng vẫn còn cơ may giành lại chỗ đứng trong lòng dân, nếu họ nhận ra rằng đã đến lúc bức thiết phải kiên định gạt bỏ những quan chức không làm được việc, vô trách nhiệm và quá thiên về quyền lợi tư hữu mà có thể khiến cho nhân dân tràn uất phẫn nộ rồi gầm thét phủ nhận tất cả.

Scridb filter

]]>
http://phiatruoc.info/thu-tuong-dung-co-cuu-van-duoc-kinh-te-viet-nam/feed/ 0
Kinh tế Việt Nam có ‘dấu hiệu phục hồi’ http://phiatruoc.info/kinh-te-viet-nam-co-dau-hieu-phuc-hoi-2/ http://phiatruoc.info/kinh-te-viet-nam-co-dau-hieu-phuc-hoi-2/#comments Tue, 13 Aug 2013 18:21:03 +0000 tapchiphiatruoc http://phiatruoc.info/?p=11573 Thanh Ngân chuyển ngữ, CTV Phía Trước
Nguyen Pham Muoi & James Hookway
, WSJ

HÀ NỘI – Thị trường chứng khoán Việt Nam đạt được điểm tốt nhất trong năm nay so với các nước khác trong khu vực châu Á

Kinh te VN-1Kinh tế Việt Nam hiện đang có các dấu hiệu phục hồi trong một thời điểm mà hầu hết các thị trường mới nổi trong khu vực đều bị sụt giảm bởi sự tăng trưởng chậm chạp tại Trung Quốc.

Xuất khẩu, tăng trưởng tín dụng và nền kinh tế của Việt Nam đang bắt đầu tăng trở lại, trong khi chính phủ đang thúc đẩy lòng tin của người tiêu dùng và các giới đầu tư bằng các bước cụ thể nhằm sửa chữa một loạt các vấn đề đã làm mức tăng trưởng kinh tế sụt giảm xuống mức thấp nhất trong 13 năm qua.

Theo số liệu công bố bởi một nhóm thương mại vào thứ Ba vừa qua cho thấy doanh số bán ô tô hồi tháng trước tăng 25% so với một năm trước đó. Xuất khẩu trong bảy tháng đầu năm nay cũng đã tăng 14,3% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi số tiền giải ngân vốn đầu tư nước ngoài – phần lớn là từ các công ty công nghệ cao – cũng tăng 6,4% trong cùng thời kỳ lên 6,65 tỷ USD.

Tăng trưởng tín dụng cũng đang bắt đầu tăng lên sau khi chính phủ thành lập công ty quản lý tài sản để mua và phục hồi các khoản nợ xấu trong hệ thống ngân hàng. Số vốn vay ngân hàng cũng tăng 5,15% trong bảy tháng đầu năm nay – đây là số liệu tăng tốc khá mạnh từ 0,3% vào cuối tháng Ba vừa qua mặc dù vẫn còn thấp hơn mục tiêu 12% cho 2013 do chính phủ đề ra.

Hiện nay các nhà đầu tư đang chú ý đến những cải tiến trên. Chỉ số VN-Index đã tăng khoảng 20% ​​trong năm nay, và đẩy thị trường chứng khoán Việt Nam lên thành một trong những sàn chứng khoán hoạt động tốt nhất tại châu Á giữa lúc các thị trường lớn khác trong khu vực như Thái Lan đang vật lộn với tăng trưởng một con số.

Việt Nam đang ra sức thể hiện cái được gọi là thị trường bên ngoài, điều mà có thể giúp nước này đạt được chỉ số tăng trưởng mạnh mẽ ngay cả trong bối cảnh kinh tế còn trì trệ tại các thị trường mới nổi. Chỉ số MSCI Frontier Markets Index, bao gồm 32 quốc gia trên toàn thế giới, đã tăng 14% trong năm nay bất chấp những lo ngại về nhu cầu bị chậm lại ở Trung Quốc và triển vọng tăng trưởng của Hoa Kỳ vì các chương trình kích cầu trong những tháng gần đây.

Nền kinh tế Việt Nam cũng đã có những dấu hiệu ổn định hơn. Tổng sản phẩm trong nước tăng lên 5,0% trong quý II so với 4,8% một năm trước đó. Các quan chức và các kinh tế gia tại Việt Nam nghĩ rằng mức tăng trưởng nhanh như trước đây đang bắt đầu quay trở lại.

“Mặc dù vẫn còn quá sớm để đưa ra bất kỳ con số dự báo cụ thể nào trong quý III, nhưng kinh tế sẽ tăng trưởng nhanh hơn trong quý này so với thời gian trước đó”, Đỗ Thức, Tổng Cục trưởng Tổng cục Thống kê của chính phủ cho biết.

Việt Nam dự báo nền kinh tế sẽ tăng 5,5% trong năm nay, so với 5,03% hồi năm ngoái.

Võ Chí Thanh tại Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế của chính phủ cho biết rằng việc mở rộng tăng trưởng tín dụng và gia tăng đầu tư nước ngoài – gần 1 tỷ USD mỗi tháng – sẽ tiếp tục giúp duy trì đà tăng trưởng này trong những tháng còn lại của năm 2013.

Nhưng điều chắc chắn rằng Việt Nam vẫn còn nhiều việc cần phải sửa chữa. Chính phủ đang phải vật lộn để phục hồi lĩnh vực nhà ở và xây dựng sau khi bong bóng bất động sản bùng nổ. Điều này đã góp dầu vào lửa trong vấn đề nợ xấu trong hệ thống ngân hàng của Việt Nam.

Sau nhiều tháng trì hoãn, Việt Nam tạo ra công ty quản lý tài sản Việt Nam hồi tháng Bảy vừa qua nhưng công ty này vẫn chưa bắt đầu tiếp quản các khoản nợ xấu. Theo ước tính của công ty xếp hạng tín dụng Fitch, việc này đã làm cho các ngân hàng khômg dám cho vay vốn vào giữa lúc thời điểm nợ xấu chiếm đến 15% tổng dư nợ.

Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam cũng đã thực hiện tương đối một ít tiến triển trong việc hợp lý hóa một số các doanh nghiệp nhà nước lớn tại nước này, một phần nhờ vào các cuộc tranh giành quyền lực kéo dài trong giới lãnh đạo hàng đầu trong năm qua. Nhiều doanh nghiệp nhà nước này đã chiếm các khoản nợ khổng lồ trong nhiều năm qua khi họ mở rộng lĩnh vực kinh doanh để cạnh tranh với các nhà đầu tư nước ngoài. Trong một số trường hợp các doanh nghiệp nhà nước còn lấn át lĩnh vực cho vay của các ngân hàng tư nhân nhỏ hơn. Một trong những thất bại lớn nhất gồm Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam – hoặc Vinashin – đã gần như sụp đổ và phá sản trong năm 2008 với số nợ lên đến 4 tỷ USD.

Quỹ Tiền tệ Quốc tế lo ngại rằng chính phủ Việt Nam đã cắt giảm lãi suất quá mạnh. Ngân hàng Nhà nước đã cắt giảm lãi suất hai lần trong năm nay, mỗi lần giảm khoảng 1%. Một phái đoàn của IMF hồi tuần trước đã kêu gọi các nhà hoạch định chính sách tập trung vào việc kiềm chế lạm phát sau khi một loạt các đợt tăng giá mạnh và gây mất ổn định trong những năm gần đây.

Tuy nhiên, một số dấu hiệu lạc quan cho thấy nền kinh tế Việt Nam – nơi từng được xem như con hổ của châu Á – đang trên đà phục hồi và đi đúng hướng. Công ty quản lý tài sản đang chuẩn bị dọn sạch các khoản nợ xấu trong hệ thống ngân hàng, trong khi chính phủ đang bắt đầu tung ra chương trình 1,4 tỷ USD trợ cấp các khoản vay cho việc xây dựng và mua nhà ở chi phí thấp, việc này có thể giúp phục hồi thị trường bất động sản nhanh hơn – kinh tế gia Michael Kokalari đã viết trong một bản báo cáo nghiên cứu trong tháng này.

Các nhà đầu tư có thể sẽ sớm được tiếp xúc nhiều hơn với thị trường Việt Nam. Chính phủ Việt Nam đang xem xét việc tăng giới hạn số vốn sở hữu nước ngoài trong các công ty cổ phần niêm yết từ 49% lên 59%, và việc này có thể sẽ thúc đẩy thị trường chứng khoán Việt Nam trong những ngày tới.

Ông Kokalari cho biết rằng, “Việt Nam đang lên kế hoạch cho các bước đi lớn trong năm 2014″.

© Bản tiếng Việt TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC – www.phiatruoc.info

Scridb filter

]]>
http://phiatruoc.info/kinh-te-viet-nam-co-dau-hieu-phuc-hoi-2/feed/ 0
Cơn bão giá và nhóm lợi ích http://phiatruoc.info/con-bao-gia-va-nhom-loi-ich-2/ http://phiatruoc.info/con-bao-gia-va-nhom-loi-ich-2/#comments Mon, 12 Aug 2013 20:02:37 +0000 tapchiphiatruoc http://phiatruoc.info/?p=11567 TS Phạm Chí Dũng
Trích từ BBC

Cơn bão tăng giá với sang chấn đầy tai biến đang đẩy xã hội Việt Nam vào một vòng xoáy mới, tiếp nối chuỗi vòng xoáy mà nó đã kết dính suốt gần ba năm suy thoái kinh tế qua.

Xa hoi kinh teChỉ ít lâu sau kỳ họp quốc hội vào tháng 5/2013, mặt hàng xăng dầu đã được Bộ công thương, Bộ tài chính và một trong những nhóm lợi ích độc quyền nhất Việt Nam là Tập đoàn xăng dầu Petrolimex kích động đến ba lần tăng giá.

Cũng song trùng với quy luật bài trùng, người anh em sinh đôi của Petrolimex là Tập đoàn điện lực Việt Nam – EVN – đã ngay lập tức đẩy giá điện lên 5%.

Hành động mang hàm ý bất chấp này càng làm nổi rõ một quy luật kinh tế – chính trị: giá giảm vào trước và trong các kỳ họp quốc hội, nhưng lại tăng vọt “lên một tầm cao mới” sau khi cánh cửa hội trường dân cử khép lại.

Mối lo thường trực của người dân đã có cơ sở để biến thành linh cảm thật tệ: không lúc này thì lúc khác, nhóm lợi ích sẽ không bỏ cuộc và vẫn sẽ tiếp tục theo đuổi lộ trình tăng giá điện và xăng dầu.

Trong khi đó, không có gì giấu nhẹm mãi được, có vẻ cuối cùng Ban tuyên giáo trung ương cũng phải làm ngơ để báo chí đưa tin về hàng loạt vụ nhảy cầu quyên sinh vì nguyên do bức bách tài chính. Cái nghèo dân sinh chưa bao giờ quyện gắn với vô cảm quan chức đến mức này, vào buổi giao thời đầy tính định mệnh như thế này của dân tộc.

Nhưng bất chấp phản ứng của đại đa số các tầng lớp nhân dân, giai tầng lợi ích ở Việt Nam vẫn tiếp tục chiến dịch “bù lỗ vào dân”. Những tin tức mới nhất cho thấy với đợt tăng giá 5%, EVN đã có được thêm 3.000 – 4.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, một quan chức cao cấp ngành điện lực vẫn than thở là tập đoàn này còn “thiếu ít nhất 8.000 tỷ đồng nữa”, tương ứng với khả năng EVN phải tăng 15-20% giá điện trong năm nay.

So với con số lỗ còn treo đến 34.000 tỷ đồng do đầu tư trái ngành vào chứng khoán, bất động sản, bảo hiểm bị phát hiện vào cuối năm 2011 và như một công bố chẳng đặng đừng vào đầu năm 2013, cho tới nay EVN đã “thanh lý” được một phần, nhờ vào thao tác dùng giá điện “thanh toán” lên đôi vai gày guộc của nhân dân.

Xăng dầu và điện tăng cũng ngay lập tức kích thích giá các mặt hàng khác cùng phi mã. Chỉ ít ngày sau khi tăng giá xăng dầu và điện, hàng loạt mặt hàng rau quả ở miền Tây Nam Bộ đã tăng từ 10-30%. Còn tại các đô thị, giá sữa đương nhiên là một thứ hàng không thể không tăng, làm khốn khó thêm cho đời sống người dân trong cơn bão suy thoái.

Chính phủ không vô can

Không thể nói Chính phủ vô can trong toàn bộ câu chuyện tăng giá điện và xăng dầu.

Bất chấp nạn suy thoái kinh tế kinh niên và phản ứng của người dân, các nhóm lợi ích xăng dầu và điện lực vẫn đang hứa hẹn sẽ còn tiếp tục tăng giá trong năm nay và cả cho năm sau – 2014, tăng đến khi nào toàn bộ số lỗ do đầu tư trái ngành những năm về trước được thanh toán trên đầu người dân.

Bất chấp “những cố gắng của toàn bộ Chính phủ” trong cuộc chiến chống lạm phát, những tác động được giới quan chức thống kê Việt Nam xem là “tăng giá điện và xăng dầu không ảnh hưởng nhiều đến lạm phát” liệu còn có ý nghĩa gì khi giá nhiều mặt hàng đã tăng phi mã tại các chợ và cửa hang?

Thay thế cuộc chiến này bằng một cuộc chiến khác, phải chăng điều mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từng diễn trình mong muốn – cuộc chiến chống các nhóm lợi ích – đang có nguy cơ bị chính các nhóm đặc quyền đặc lợi này diễn đạt theo một cách hoàn toàn trái ngược?

Nhưng cảnh sắc trái ngược như thế lại thường được lịch sử chứng thực ở những quốc gia không độc quyền. Vào tháng 2/2013, trước hành vi tăng mạnh giá điện của hai nhà phân phối điện lực là Công ty CEZ và Evergo-Pro và Công ty EVN, hàng chục ngàn người dân Bungaria đã đổ ra đường biểu tình, đẩy cao nguy cơ một cuộc bạo động đẫm máu.

“Tôi sẽ không tham gia vào một chính phủ mà ở đó cảnh sát có quyền được đánh đập người dân. Chúng tôi cũng có danh dự và lòng tự trọng riêng của mình. Nhân dân đưa chúng tôi lên nắm quyền và chúng tôi sẽ trao trả lại quyền lực cho họ” – Thủ tướng Boiko Borisov khẳng định trước Quốc hội nước này. Chỉ sau đó một tháng, chính phủ Bungaria đã quyết định từ chức.

Dân chúng?

Còn ở Việt Nam và ứng với một lịch sử độc quyền về nhiều phương diện, nhân dân sẽ biểu cảm ra sao?

Sức chịu đựng của người dân Việt Nam là rất cao, đặc biệt trong thời chiến tranh. Nhưng sau khi chiến tranh đã trôi qua gần bốn chục năm và thế đặc quyền cũng có chừng ấy thời gian để tác quái, không ai có thể nói trước được điều gì.

Vào kỳ họp quốc hội tháng 5/2013, lồng trong bối cảnh nền kinh tế suy thoái thảm trạng cùng trào lưu thăng hoa của các nhóm lợi ích và nạn tham nhũng, thái độ im lặng của các đại biểu quốc hội đã khiến cho dư luận người dân thất vọng.

Tuy nhiên, một hiệu ứng tâm lý xã hội đã bất ngờ xảy ra vào cuộc bỏ phiếu tín nhiệm lần đầu tiên trong lịch sử quốc hội: đa số phiếu tín nhiệm thấp được các đại biểu quốc hội dồn cho giới quan chức chính phủ – những người phải chịu trách nhiệm trực tiếp về khả năng điều hành kém cỏi.

Không phát biểu không có nghĩa là không hành động. Và chỉ hành động nếu có cơ hội – đó là điều mà nhiều đại biểu quốc hội, dù phải rơi vào tình thế lắng tiếng vì một số lý do nào đó, nhưng đã bộc lộ qua một phản ứng có tính kết tủa bằng vào lá phiếu của mình.

Vậy còn thái độ người dân đối với Chính phủ thì sao?

E rằng, phản ứng của người dân sẽ khác và còn khác nhiều với khối quan chức quốc hội. Một quy luật tâm lý xã hội khác đang hình thành ngày càng sống động: giá độc quyền càng tăng, sức chịu đựng của người dân càng tiệm cận với giới hạn cuối cùng. Tâm lý chịu đựng đang dần chuyển sang tâm lý phản ứng và có thể cả phản kháng.

Ai cũng biết rằng, đến một thời điểm nào đó, khi tâm lý chịu đựng đã vượt qua tâm trạng sợ hãi, những người dân khốn khổ nhất sẽ bắt đầu tập hợp với nhau, tạo thành tiền đề phản ứng công khai đầu tiên như người dân Bungaria đã làm.

Những cuộc biểu tình công khai đối với chính phủ cũng từ đó mà sinh sôi, có thể kéo theo tình hình mất kiểm soát, để sau đó không ai có thể lường được hậu quả sẽ ra sao.

Lẽ nào Chính phủ và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng còn quá chủ quan với cận cảnh mất mát ấy?

Bài viết thể hiện quan điểm và văn phong của tác giả, một nhà báo tự do ở TP Hồ Chí Minh.

Scridb filter

]]>
http://phiatruoc.info/con-bao-gia-va-nhom-loi-ich-2/feed/ 0
Kinh tế Việt Nam: Thời điểm trả giá cho các thị trường đầu cơ http://phiatruoc.info/kinh-te-viet-nam-thoi-diem-tra-gia-cho-cac-thi-truong-dau-co/ http://phiatruoc.info/kinh-te-viet-nam-thoi-diem-tra-gia-cho-cac-thi-truong-dau-co/#comments Thu, 08 Aug 2013 18:08:38 +0000 tapchiphiatruoc http://phiatruoc.info/?p=11541 Phạm Chí Dũng
Theo VOA

Đã bước vào quý 3/2013, nhưng nền kinh tế Việt Nam vẫn chưa nhìn thấy một cái đáy nào rõ rệt. Khung cảnh vẫn nhuộm một gam màu u ám, bất chấp hàng loạt báo cáo của giới chức sắc chính phủ và phát ngôn của giới chuyên gia cận thần về triển vọng kinh tế đang tốt lên.

Mới đây, nguyên thống đốc Ngân hàng nhà nước và hiện là Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam là ông Cao Sỹ Kiêm đã mô tả bức tranh thực trạng: vẫn còn rất nhiều vấn đề vẫn chưa giải quyết được. Cụ thể, sản xuất vẫn đang bị thu hẹp, phá sản, đình trệ vẫn cao, khó khăn của nhiều doanh nghiệp về vốn, về đầu ra, tồn kho vẫn chồng chất và có xu hướng tăng lên… Đến nay theo thống kê đã có một nửa số doanh nghiệp nhỏ và vừa ra đi, không đủ sức để chờ đợi được hưởng chính sách này. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp đã chán nản, buông xuôi…

Ông Kiêm cũng đưa ra dự báo: với tình hình như thế này thì số doanh nghiệp tạm ngừng sản xuất, giải thể phá sản chắc chắn còn tăng lên nữa.

Những nguồn cơn  nào đã dẫn đến hiện trạng cay đắng như thế?

Không thể hoài nghi, các thị trường đầu cơ đã đóng góp một phần không nhỏ cho thế tuột dốc không phanh của nền kinh tế quốc gia.
 
Parabol rơi xuống

Nhìn tổng quan và lấy mốc từ năm 2005 – khi giai đoạn trì đọng của kinh tế Việt Nam còn đi ngang, thì cho đến năm 2013, nền kinh tế Việt Nam đã tạo nên hai đỉnh. Đỉnh thứ nhất có thế năng lớn nhất, được lập vào năm 2007; còn đỉnh thứ hai vào năm 2009. Hai đỉnh này đã được xem là kết thúc cho biểu đồ tăng trưởng liên tục của nền kinh tế Việt Nam từ năm 1991 – thời điểm mở cửa kinh tế – cho đến nay.

2007 là thời gian mà đầu tư công và các nguồn đầu tư trực tiếp và gián tiếp từ nước ngoài tăng rất đáng kể. Đó cũng là thời kỳ tương tự như nhận định của một số chuyên gia kinh tế nước ngoài về nền kinh tế Trung Quốc “đầu tư nhiều nhất trong thời gian ngắn nhất”. Tiền được đổ ra và kích thích các thị trường, nhưng cũng kéo theo lạm phát và mặt bằng giá cả hàng tiêu dùng làm cho sinh hoạt của người dân trở nên khốn khó hơn.

Nếu xem xét vận hành của nền kinh tế theo quan điểm thị trường chứng khoán là kẻ đi tiên phong và báo hiệu thì trong thời gian từ cuối năm 2006 đến đầu năm 2007, thị trường chứng khoán đã có một bước nhảy vọt gấp 3 lần. Nhiều đánh giá cho thấy một nguồn lực khổng lồ từ nước ngoài đã đổ vào cổ phiếu, khiến cho mặt bằng giá cổ phiếu tăng vô tội vạ. Đó cũng là minh họa sống động về nền kinh tế đã bị đầu tư quá nóng. Trong khi nền kinh tế và biểu đồ tăng trưởng của nó còn khá từ tốn thì đồ thị của chứng khoán đã làm nên một cuộc “đại nhảy vọt”, hệt như cuộc cách mạng thời năm 1960 ở Trung Quốc. Và logic tiếp nối là những gì ảo ảnh và nhảy vọt đều có thể để lại hậu quả “dưới đáy” khủng khiếp.

Nhưng cơn sốt kinh hoàng và để lại dư chấn ghê gớm nhất không phải là chứng khoán mà chính là bất động sản – điều xảy ra tương tự với thị trường Trung Quốc trong cùng giai đoạn 2007 – 2012.

Một điểm rất tương đồng giữa nền kinh tế, thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản ở Việt Nam là sau khi cùng lập đỉnh vào năm 2007, đến đầu năm sau, tất cả lại cùng lao dốc. Những gì tăng sớm nhất và mạnh nhất lại bắt buộc phải hạ cánh cứng nhanh nhất.

Chứng khoán là minh họa khốn khổ như thế. Trong khi thị trường này lao dốc, bất động sản – tuy chưa chịu xuống giá – nhưng lập tức rơi vào tình cảnh đóng băng. Đó cũng là một đặc trưng của thị trường địa ốc ở Việt Nam, khi có đến 70% người tham gia thị trường này với động cơ đầu cơ, để khi tăng thì mọi người cùng đổ xô mua đuổi giá cao, còn lúc xuống thì không mấy ai dám “bắt dao rơi” – như một thuật ngữ trong thị trường chứng khoán.

Đồ thị lao dốc của chứng khoán lại dắt dây đến đường biểu diễn suy giảm của bất động sản. Từ năm 2007 đến nay, bất chấp chu kỳ hồi phục ngắn vào năm 2009, giá chứng khoán ở Việt Nam đã giảm đến 70-80%, còn giá bất động sản giảm ít nhất 30-40%, cao hơn hẳn mức 25-30% của chỉ số suy thoái của bất động sản S&P/Case-Shiller của Mỹ trong thời kỳ 2007- 2011.

Chứng khoán và bất động sản lại kéo theo đà suy thoái không thể cưỡng được của nền kinh tế. Tuy không đến nỗi lao dốc như bất động sản, nhưng hiển nhiên nền kinh tế Việt Nam đã làm thành một vệt parabol lõm từ năm 2009 đến nay.
 
Kích cầu nhóm lợi ích

Vào năm 2009, chính phủ Việt Nam đã bơm ra một gói kích cầu có giá trị 143.000 tỷ đồng, tương đương với 8 tỷ USD theo tỷ giá ngoại hối khi đó, để kích thích nền kinh tế và các thị trường.

Tuy nhiên, điều đáng buồn là trong khi gói kích cầu năm 2009 vẫn chưa được làm rõ về tính hiệu quả thực sự của nó, thì lại có quá nhiều dư luận cho rằng phần lớn nguồn tiền này đã bị đầu tư sai mục đích, tức phần lớn đã chảy vào thị trường chứng khoán và bất động sản để “đánh” hai thị trường này lên, cũng là giúp cho các nhóm đầu cơ trục lợi và “thoát hàng”.

Trong năm 2009 – 2010, nếu mặt bằng giá cổ phiếu phục hồi gấp đôi thì mặt bằng giá nhà đất ở Hà Nội lại tăng gần gấp ba, tạo thành một cơn sốt mới và lập đỉnh mới. Kết quả là sau hơn 20 năm kể từ mốc mở cửa, giá nhà đất ở Việt Nam đã tăng gấp 100 lần, và hiện thời đang cao gấp 25 lần so với mặt bằng thu nhập bình quân của người tiêu dùng, trong khi chuẩn của Liên hiệp quốc chỉ dưới 5 lần.

Trong khi đó, giá vàng cũng đã tăng gấp gần 4 lần từ năm 1997 đến năm 2011, và tăng gấp 10 lần nếu tính từ thời điểm năm 2000. Giá vàng tăng dẫn đến lạm phát phi mã. Riêng năm 2011 lạm phát đã gần 20%.

Tất cả những tiêu chí lợi nhuận được tính bằng số lần ở Việt Nam đã khiến cho bất cứ một nhà tư bản nước ngoài nào cũng phải thèm khát. Điều lạ lùng luôn khiến cho các nhà đầu tư nước ngoài kinh ngạc là trong một thị trường Việt Nam quá thiếu minh bạch về thông tin và yếu kém về quản lý, người ta lại có thể kiếm tiền rất dễ dàng – hiện tượng mà chỉ có Trung Quốc mới so sánh được.

Quả thế, thị trường bất động sản vẫn được xem là một tâm điểm của tình trạng thiếu minh bạch trong nền kinh tế Việt Nam. “Nền văn hóa kinh doanh rỉ tai”, hay những gì tương tự, đã khiến cho thị trường này phải đứng áp chót trong bảng xếp hạng 15 nước thuộc khối châu Á – Thái Bình Dương, và cũng đội sổ trong số 56 nước được chọn xếp hạng về độ minh bạch của thị trường bất động sản trên thế giới.

Tuy nhiên, dần dần các nhà đầu tư và nghiên cứu nước ngoài cũng hiểu ra một bí quyết tối quan trọng: thị trường càng thiếu minh bạch thì lại càng dễ đầu cơ. Mà đầu cơ lại là gốc rễ của tư bản, của siêu lợi nhuận. Phần lớn các thị trường mang tính đại chúng ở Việt Nam, trừ thị trường ngoại tệ thường dao động ngang và một số thị trường hàng hóa đặc thù, đã luôn đạt đến điểm mơ ước về siêu lợi nhuận trong đầu cơ như thế.
 
Trả giá!

Người dân Việt Nam có thể tự đặt câu hỏi: hơn 20 năm qua có ý nghĩa như thế nào đối với một thời lượng của sự phát triển? Sau phát triển, hay theo quy luật vận hành của nền kinh tế, thường là giai đoạn suy thoái. Vậy Việt Nam có tương đồng với trường hợp nước Mỹ, với chu kỳ 20 năm liên tục tăng trưởng GDP, đạt đến thời kỳ mà người ta vẫn dùng từ “Thịnh vượng” để miêu tả, để rồi sau đó rơi vào một chu kỳ điều chỉnh giảm bắt buộc?

Thế nhưng cũng không khác gì quy luật tăng trưởng – suy thoái trong đầu cơ quốc tế, sự vận hành của nền kinh tế đầu cơ ở Việt Nam cũng mang tính chu kỳ với hệ quả tất yếu phải xảy ra. Hơn 20 năm qua có lẽ đã đủ cho một chu kỳ tăng trưởng, đủ để hoạt động đầu cơ ở Việt Nam phải gánh chịu những hậu quả do chính nó gây ra.

Hậu quả mà nền kinh tế Việt Nam phải nhận lãnh sau những cơn sốt tất nhiên là một sự thoái hóa chưa có hồi kết. Người ta có thể chứng kiến nhan nhản nhiều tập đoàn kinh tế lớn của nhà nước như dầu khí, điện lực, xăng dầu, các tổng công ty kinh doanh bất động sản bị chìm ngập trong núi tài sản bị chôn trong cổ phiếu và bất động sản.

Tuy nhiên, khủng khiếp nhất vẫn là bất động sản với con số nợ xấu đang lên đến ít nhất 200.000 tỷ đồng đến thời điểm hiện nay. Còn nợ xấu trong hệ thống ngân hàng dĩ nhiên còn khủng khiếp hơn: ít nhất 250.000 tỷ đồng theo báo cáo chính thức của Ngân hàng nhà nước, và gấp đôi con số này theo ước tính của giới chuyên gia phản biện độc lập.

Cùng với bất động sản và chứng khoán, nhiều lĩnh vực khác như xây dựng, sắt thép, xi măng, thủy sản, nông sản…cũng chịu cảnh đổ dốc và ngưng trệ sản suất. Đặc biệt từ năm 2011 đến nay, nền kinh tế rơi vào tình trạng thảm thương khó có lối thoát, với gia tốc suy giảm tăng dần và biểu đồ suy thoái ngày càng chúc xuống với độ dốc lớn hơn.

Một khi chủ nghĩa đầu cơ cũng phải quy hàng thì có thể hiểu là nền kinh tế đang thiếu hẳn động lực để lấy lại những gì đã mất. Thậm chí nếu không được cải tổ mạnh mẽ, nền kinh tế Việt Nam còn có thể mất hết những gì vừa có lại.

Do vậy, khó có thể quan niệm những năm 2009-2010 như giai đoạn phục hồi mạnh sau khủng hoảng, mà chỉ nên xem đó là thời kỳ quá độ của những khó khăn trên đà tiếp diễn. Có nghĩa là chữ L đã được hình thành cơ bản, đang kéo dài cạnh đáy của nó một cách không bằng phẳng, thậm chí cạnh đáy này còn có thể chúc xuống nếu như nền kinh tế thế giới rơi vào suy thoái kép trong những năm tới.

Vẫn luôn có một lối đối sánh không quá ẩn dụ đối với bối cảnh hiện thời: “Thị trường bất động sản đang biến toàn bộ nền kinh tế và người dân thành con tin của nó”. Rõ như ban ngày, sau thị trường chứng khoán, khối tài sản khổng lồ treo giá cao ngất nhưng không bán được của đa số các doanh nghiệp nhà đất đang trở nên một ổ dung nham khủng khiếp, tiềm ẩn trong núi lửa có thể phun trào xuống khu vực đồng bằng của nền kinh tế và đời sống dân sinh.

Các thị trường đầu cơ đã lao nhanh đến thời điểm phải trả giá, trả giá cho mặt bằng giá hoàn toàn không tương xứng với thu nhập bình quân của người dân. Và đến lượt mình, nền kinh tế cũng phải trả giá với tư cách một nạn nhân của các thị trường đầu cơ – một hệ quả mà thay vì phục hồi theo chữ V thì nền kinh tế vẫn còn ì ạch ở cạnh đáy của chữ L cho tới giờ này.

Sự trả giá trên là quy luật tất yếu và phải diễn ra, chỉ là sớm hay muộn mà thôi.

Scridb filter

]]>
http://phiatruoc.info/kinh-te-viet-nam-thoi-diem-tra-gia-cho-cac-thi-truong-dau-co/feed/ 0