Tạp chí Thanh Niên Phía Trước » Giáo dục – Khoa học http://phiatruoc.info Ngòi bút của trí thức - Tinh thần của tuổi trẻ Wed, 11 Sep 2013 19:50:43 +0000 en-US hourly 1 Cảm nhận bài thơ “Đàn ghi ta của Lorca” từ góc nhìn chủ nghĩa tương trưng, siêu thực http://phiatruoc.info/cam-nhan-bai-tho-dan-ghi-ta-cua-lorca-tu-goc-nhin-chu-nghia-tuong-trung-sieu-thuc/ http://phiatruoc.info/cam-nhan-bai-tho-dan-ghi-ta-cua-lorca-tu-goc-nhin-chu-nghia-tuong-trung-sieu-thuc/#comments Wed, 11 Sep 2013 19:50:43 +0000 tapchiphiatruoc http://phiatruoc.info/?p=11739 Hoàng Nguyên, CTV Phía Trước

            Chất siêu thực, tượng trưng đã thẩm thấu vào thơ ca Việt Nam từ thời Thơ mới và kết tinh ra nhiều kiệt tác trong thơ của Hàn Mặc Tử, Vũ Hoàng Chương, Bích Khê, kể cả Xuân Diệu… Giai đoạn 1945–1975, thơ Việt Nam tập trung vào mảng thơ tạm gọi là hiện thực, tất cả phục vụ cho lợi ích chung nên những âm điệu, hình sắc thăng giáng bí ẩn của chủ nghĩa siêu thực, tượng trưng có vẻ không phù hợp. Và từ sau giải phóng đến nay, đời sống văn học dần trở lại sự đa dạng đáng phải có của nó, chất tượng trưng, siêu thực lại tái sinh trong sáng tác của các thi sĩ đương đại. Bài thơ Đàn ghi ta của Lorca đã được nhà Thanh Thảo vận dụng chất ma mị, biển ảo ấy một cách khá “nhuyễn tay”. Điều này không mới nhưng là một hiện tượng đáng ngợi khen cho sự nỗ lực làm phong phú thêm hình thức thơ ca, giúp tư duy nghệ thuật ngày càng thay da, đổi thịt.

Dan ghita Lorca            Chủ nghĩa siêu thực hướng đến tạo lập tính lạ hóa của ngôn từ nghệ thuật và hình tượng nghệ thuật. Thủ pháp “lạ hóa” có khuynh hướng phối hợp những yếu tố ngôn ngữ có vẻ không liên hệ gì nhau để tạo nên những tín hiệu thẩm mĩ mới mẻ, những tổ hợp ngôn từ “xiên lệch” thậm chí méo mó, khác thường… Nó hướng đến tác động đến trực giác, chạm đến tiềm thức của con người. Cũng như vậy, sản phẩm thơ ca của chủ nghĩa tượng trưng không thể được lĩnh hội bằng lí trí.

            Thơ tượng trưng là thơ giàu nhạc tính. Hình ảnh thơ đầy ấp biểu tượng đòi hỏi sự giải mã và quá trình lấp đầy khoảng trắng, khoảng trống ở người đọc. Bài thơ Đàn ghi ta của Lorca đã được Thanh Thảo kiến tạo một cách rất thành thục trong sự vận dụng thủ pháp của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực một cách tinh tế, tài hoa:

những tiếng đàn bọt nước
Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt
li – la li – la li – la
đi lang thang về miền đơn độc
với vầng trăng chếnh choáng
trên yên ngựa mỏi mòn

            Chủ nghĩa siêu thực tước bỏ hết những tính hiệu ngôn từ để người đọc có thể lí giải về nó theo “đường thẳng”. Mở đầu bài thơ là hình ảnh mang đậm tính siêu thực, lẫn tượng trưng: những tiếng đàn bọt nước. Tiếng đàn là âm thanh, là không hình hài, không màu sắc được phối hợp với  bọt nước – có hình hài, đường nét. Những tiếng đàn tượng trưng cho tài hoa và sinh mệnh của Lorca. Tiếng đàn ấy được cảm nhận là có đường nét, có hình khối. Bọt nước thì mong manh, dễ vỡ, chỉ tồn tại trong một lóe sáng… Dòng thơ đầu tiên này vừa gợi tả tiếng đàn kì lạ của Lorca vừa ngầm dự cảm về số phận bất trắc của ông. Tiếng đàn của Lorca ngân vang như một dòng suối lạ trên đời, Lorca đến với cuộc đời này như một huyền thoại. Nếu ai đó tinh ý sẽ thấy dòng thơ thứ hai đối lập gay gắt với dòng thơ đầu: Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt. Nếu như ta thay thể từ Tây Ban Nha bằng một chủ ngữ chỉ người nào khác thì tứ thơ không có gì khó hiểu, chả lẽ lại cắt nghĩa là cả đất nước Tây Ban Nha đang choàng áo đỏ? Chủ nghĩa siêu thực cho phép nhà thơ kiến tạo ngôn từ mang hình sắc khác thường như vậy. Áo choàng đỏ gắt là hình ảnh tượng trưng gợi ra tư thế của những đấu sĩ bò tót. Tây Ban Nha trong cảm nhận của Thanh Thảo là một đấu trường khổng lồ, một đấu trường khắc nghiệt bạn lực và đẫm máu. Những tiếng đàn kì diệu của Lorca, người nghệ sĩ tài hoa Lorca lại bị đặt trong một bối cảnh thời đại tàn khốc và đầy rẫy hiểm nguy ấy. Đó chính là sự đối lập gay gắt. Dòng thơ thứ ba mô phỏng âm điệu ngân vang của tiếng đàn Lorca, như trêu ngươi, như thách thức. Ba dòng thơ tiếp không hề có chủ ngữ, xây dựng chân dung và tư thế của Lorca một cách mờ ảo, khác thường:

đi lang thang về miền đơn độc
với vầng trăng chếnh choáng
trên yên ngựa mỏi mòn

            Người nghệ sĩ Lorca trên con đường đi tìm chân lí và cái đẹp là một kẻ lẻ loi, cô đơn. Lorca đi giữa thời đời đẫm máu, đường đầu với nó trong tư thế độc mã, đơn thương. Chân trời mà ông hướng tới cũng không hề có dấu chân của bạn đồng hành, đó là chân trời đơn độc. Cái lang thang, cái đơn độc của Lorca còn được hiểu ở một tầng nghĩa khác: không ai sánh được với ông. Trên con đường vinh quang đi tìm tự do và công lí, Lorca ngự ở một tầm cao chói lọi. Điều đó vừa là vinh quang, vừa là bi kịch. Thanh Thảo vừa ngợi ca vừa thương cảm. Bạn đồng hành của ông có chăng chỉ là vầng trăng chếnh choáng. Xuân Diệu từng viết: cho chếnh choáng mùi hương / cho đã đầy ánh sáng. Từ láy chếnh choáng diễn tả trạng thái động và biến bảo liên tục của ánh sáng. Lorca đi trong ánh sáng ma mị, biến đổi đến chóng mặt của vầng trăng kì bí. Hình ảnh của Lorca trở nên lung linh, mơ màng. Ông đi như một huyền thoại.

Giữa thời đại bão tố và khốc liệt ấy, người nghệ sĩ dù đơn độc vẫn đường hoàng, không chỉ đi mà còn cất tiếng hát:

Tây Ban Nha
hát nghêu ngao

            Liên kết hai dòng thơ lại, không phải là cả đất nước Tây Ban Nha đang hát nghêu ngao. Dòng thơ đầu đóng vai trò gợi bối cảnh. Câu thơ thứ hai là hình ảnh của Lorca. Ông vẫn tiến về phía trước và cất tiếng hát đầy kiêu hãnh như chòng ghẹo, như thách thức và bất chấp. Và tại họa đã giáng xuống:

bỗng kinh hoàng
áo choàng bê bết đỏ
Lorca bị điệu về bãi bắn
chàng đi như người mộng du

            Hình ảnh áo choàng bê bết đỏ không phải là hình ảnh tượng trưng hay hoán dụ, nó gợi tả quá rõ ràng cái chết đẫm máu của Lorca. Thanh Thảo chỉ lướt qua nỗi đau ấy bằng một chi tiết nói về cái chết. Bọn phát xít đến bắt, giết chết lorca và ném xác ông xuống giếng để phi tan. Ta chú ý đến tư thế được gợi tả của Lorca: chàng đi như người mộng du. Bước chân của kẻ mộng du là bước chân của vô thức, bước chân không chủ đích. Chỉ có thân xác của Lorca bị bọn phát xít đày đến pháp trường, tâm hồn của Lorca không thể bị trói buộc và đưa đến mồ chôn hủy diệt.

Và rồi những cung bậc của thơ siêu thực thăng hoa đến cao trào, mọi hình hài hiện thực được chứng kiến bằng đôi mắt đều chìm lấp, chỉ còn lại âm thanh ám ảnh của tiếng đàn:

tiếng ghi ta nâu
bầu trời cô gái ấy
tiếng ghi ta lá xanh biết mấy

            Tiếng đàn có hình sắc, tiếng ghi ta nâu, tiếng đàn trở nên trầm buồn, u ám. Chen giữa bản đàn sầu não ấy lại là một hình ảnh có sắc thái đối lập gay gắt: bầu trời cô gái ấy. Thơ siêu thực vượt khỏi những logic thông thường của ngôn từ để xây dựng nên cấu trúc chứa đầy khoảng mờ. Ta chẳng biết cô gái ấy là ai, là nàng thơ của thi sĩ hay tình nhân ta chỉ cảm giác được được là dòng suối trong, gợi ra khoảng trời tươi sáng, ấm áp. Tâm hồn Lorca lóe lên một tia hi vọng gì chăng ?  Màu xanh của bầu trời, màu xanh của tiếng ghi ta lá xanh…màu xanh của hi vọng, màu của tương lai bỗng chuyển sắc bi thương:

tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan
tiếng ghi ta ròng ròng
máu chảy

            Những tiếng đàn bọt nước ở khổ thơ đầu đã trở thành tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan. Sự dự cảm đã chuyển thành biến cố. Sinh mệnh của Lorca được biểu trưng trong hình ảnh tiếng đàn bọt nước vỡ tan. Những tiếng đàn ấy ngân vang mà nghe như máu chảy, ròng ròng. Máu của Lorca như chảy mãi, không bao giờ ngừng cạn. Nỗi đau của cả dân tộc Tây Ban Nha về cái chết của người nghệ sĩ vĩ đại là một vết thương không bao giờ lành lại. Vết thương của tinh thần. Tiếng đàn của Lorca là tiếng đàn đổ máu, tiếng đàn đau nhói trái tim.

            Nhưng với một nghệ sĩ như Lorca, cái chết không phải là sự kết thúc:

không ai chôn cất tiếng đàn
tiếng đàn như cỏ mọc hoang
giọt nước mắt vầng trăng
long lanh trong đáy giếng

            Kẻ thù có thể bắn chết Lorca và ném xác ông vào giếng nhưng tiếng đàn không thể hủy diệt. Sinh mệnh của con người Lorca nằm ở thân xác bị bắn chết nhưng sinh mạng của người nghệ sĩ Lorca đã hóa thân vào tiếng đàn bất tử. Tiếng đàn như cỏ mọc hoang, tiếng đàn không bị hủy diệt mà còn sinh sôi mãnh liệt. Cái chết ấy được tưởng niệm bằng một biểu tượng đẹp. Nếu như ở khổ thơ đầu, vầng trăng chếnh choáng là người bạn đồng hành của Lorca thì đến khổ thơ này vầng trăng là kẻ khóc thương. Vầng trăng  – biểu tượng của hòa bình, của sự bình yên. Vầng trăng vừa tạo ra thứ ánh sang ma mị thêu dệt nên những bước chân huyền thoại của ông đi đến cuộc đời này; vầng trăng cũng là người bạn tiễn đưa, là vầng sáng diễm lệ bên thi hài Lorca. Kẻ thù giết ông và ném xác xuống giếng, từ nơi ấy không hực lên tử khí và sự căm hờn mà lóe lên tia sáng và giọt nước mắt long lanh của đất trời thật đẹp. Cái chết của Lorca rất bi thương mà cũng rất huy hoàng.

            Và con người ấy đã “trở về” trong tư thế của kẻ giải thoát:

đường chỉ tay đã đứt
dòng sông rộng vô cùng
Lorca bơi sang ngang
Trên chiếc ghi ta màu bạc
chàng ném lá bùa cô gái Di – gan
vào xoáy nước
chàng ném trái tim mình
vào lặng yên bất chợt
li – la li – la li – la

            Sinh mệnh của cuộc đời một con người kết thúc nhưng sinh mệnh của một nghệ sĩ là trường bất tử. Lorca bơi sang sông cùng chiếc đàn ghi ta là một hình ảnh đậm chất tượng trưng, siêu thực. Dòng sông đó là dòng luân hồi, là cõi đời ta bà này. Cây đàn là phương thiện giải thoát. Nghệ thuật của Lorca là cứu cánh đưa ông vượt khỏi giới hạn của sự sống và cái chết. Lorca đứng ngoài vòng luân hồi nghiệt ngã ấy. Lorca chết đi không giận hờn, không tiếc nuối. Hành động ném lá bùa thể hiện sự bất cần. Ông không cần sự cứu giúp, ông không cần một phép màu. Lorca là đã đến với cuộc đời như một huyền thoại và ra đi thật thanh thản, siêu thoát vượt khỏi mọi định mệnh. Lorca là con người đứng ngoài vòng định mệnh.

            Có lẽ vì vậy mà Thanh Thảo đã chọn câu thơ khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn làm câu thơ đề từ. Lorca là con người không tiếc nuối không sợ hãi và chấp nhận sự lãng quên. Ông không muốn những thành tựu nghệ thuật của mình là đỉnh cao áng ngữ sự phát triển của nghệ thuật đời sau. Lorca đã đến rất kiêu hãnh và ra đi thật nhẹ nhàng.

            Bằng việc sử dụng tinh tế chất tượng trưng siêu thực Thanh Thảo đã khắc họa thành công chân dung Lorca: Người nghệ sĩ đơn độc kiêu hãnh, cái chết bi kịch nhưng huy hoàng và sự bất tử, siêu thoát uy nghiêm.

© 2013 TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC – www.phiatruoc.info

Scridb filter

]]>
http://phiatruoc.info/cam-nhan-bai-tho-dan-ghi-ta-cua-lorca-tu-goc-nhin-chu-nghia-tuong-trung-sieu-thuc/feed/ 0
Hãy tự hào vì sự lạc lõng của bạn! http://phiatruoc.info/hay-tu-hao-vi-su-lac-long-cua-ban/ http://phiatruoc.info/hay-tu-hao-vi-su-lac-long-cua-ban/#comments Sun, 01 Sep 2013 19:19:44 +0000 tapchiphiatruoc http://phiatruoc.info/?p=11693 Hà Thủy Nguyên
Theo BookHunter

Xem thêm: Chúng ta – Một thế hệ lạc lõng

Thế hệ chúng ta, những người được sinh ra vào cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90, là một thế hệ lạc lõng. Một thế hệ được sinh ra và lớn lên giữa một bãi hoang tàn của thế giới. Nhiều người đi trước sẽ nói rằng họ đã hi sinh cho thế hệ chúng ta, chúng ta đã có một đời sống sung túc và yên bình. Điều đó đúng, nhưng họ đã lầm lẫn trong khái niệm về hạnh phúc, sung túc và yên bình không phải là điều mang đến cho chúng ta hạnh phúc. Và cho dù chúng ta bằng mọi cách hét thật to để mong họ lắng nghe, họ vẫn lẳng lặng không thừa nhận chúng ta, họ cho rằng chúng ta kém cỏi, ham chơi, thờ ơ với thời cuộc, trôi theo cuộc sống sa đọa…

hinh_anh_y_nghiaNhững tin tức trên báo chí và truyền thông là những gì họ nhìn thấy, nghe thấy. Một mô tả rõ ràng về thế hệ chúng ta: Những đứa trẻ ngu dốt về kiến thức, những đứa trẻ suốt ngày cắm mặt vào máy tính chơi điện tử, những đứa trẻ chơi bời thác loạn… Họ quên mất rằng ai là người cố truyền đạt kiến thức trong sự bất lực không cần quan tâm chúng ta có thích thú hay không, ai là người thiết kế nên những trò chơi bời sa đọa rồi tuyên truyền về chúng, trục lợi từ chúng…  Mỗi khi chúng ta sai lầm hay vấp ngã, họ chỉ biết chê bai, họ chỉ nhìn thấy những thứ họ tin là đúng, họ không biết ẩn đằng sau tất cả những điều ấy là gì.

Các bạn của tôi, tôi biết các bạn cô đơn trong gia đình, các bạn bị giam hãm trong nhà trường và phải chịu đựng mọi định kiến của xã hội. Đời sống khắc nghiệt không cho các bạn điều kiện  để thực hiện những điều các bạn muốn, không cho các bạn thỏa mái mơ mộng khi còn là trẻ nhỏ, không cho phép các bạn được tự do bộc lộ cảm xúc của mình; thế nhưng khi chúng ta càng cố chứng tỏ mình một cách manh động, khi chúng ta phản ứng đầy xung đột, khi chúng ta gào thét những mong họ nghe thấy… chúng ta càng chứng minh rằng những điều họ nói là đúng. Nền văn minh đề cao vật chất và chủ nghĩa tiêu dùng với hàng hiệu, rượu bia, thuốc lá, vũ trường, ma túy… là sản phẩm do những người đi trước chúng ta tạo nên, và họ dùng tất cả những thứ ấy để mê hoặc chúng ta, dẫn dắt chúng ta đi vào một lộ trình đã được thiết kế. Các bạn càng tách xa chúng, các bạn càng thoát khỏi sự ảnh hưởng của thế hệ cũ.  Đâu đó trên thế giới, nhiều bạn trẻ không thể chịu đựng được thế giới đang tan rã và đổ nát này, không chịu đựng lối sống của những xác chết biết đi, họ đã từ bỏ cuộc sống văn minh, họ đau đớn chìm vào sự trống rỗng miên viễn, thậm chí họ đã tự tử để kết thúc mọi mối dây ràng buộc… Họ không ngu muội, họ không bị xúi bẩy, họ là những người dũng cảm không chấp nhận hòa mình vào đám đông vô thức do thế hệ cũ tạo nên, chỉ là họ quá cô đơn không thể nghe thấy một tiếng nói giống họ cũng đang cất lên ở đâu đó.

Đừng tuyệt vọng, bởi vì đã có rất nhiều người như chúng ta trước đây. Họ cũng lạc lõng giữa thời đại của họ, họ bất lực trong việc thay đổi thế giới thế nên đã truyền đạt lý tưởng về một thế giới tốt đẹp hơn đến chúng ta. Và giờ đây, những con người lạc lõng ấy ngày càng đông, chúng ta đã có thể lắng nghe được tiếng gọi của nhau ở mọi ngóc ngách trên thế giới. Chúng ta biết rằng những suy nghĩ của chúng ta không hề bệnh hoạn và ngớ ngẩn, chúng ta có thể tự hào về việc chúng ta khác biệt với cả một hệ thống cũ kỹ và vững chắc. Nếu bạn có thể nhìn một cách tổng thể toàn bộ bức tranh chuyển đổi này, bạn sẽ thấy rằng chúng ta là nhân tố xây dựng một hệ thống mới mẻ hơn, thích hợp hơn với sự thay đổi của thời đại. Chúng ta lạc lõng, sở dĩ vì chúng ta là những kẻ đột biến để thế giới tiến hóa lên một mức cao hơn.

Mọi thứ của thế giới cũ đang trên đà đi xuống cực điểm. Chiến tranh đã và đang tàn phá thế giới  nhân danh những mục đích cao đẹp, môi trường bị hủy hoại, nhiều nguồn tài nguyên đang dần cạn kiệt, con người không thể tìm được sự kết nối cảm xúc thuần khiết với nhau mà mọi mối quan hệ đều dựa trên lợi nhuận. Con người từ một sinh vật chính trị biến đổi thành một sản phẩm có thể mua bán và trao đổi. Các hình tượng của niềm tin cũ đã sụp đổ rồi. Đức Phật Thích Ca, chúa Jesus, tiên tri Mohamed… đã không thể cứu chúng ta; các triết gia như Lão Tử, Khổng Tử, Socrate, Plato, Aristote, phong trào Khai Sáng, Nieztches, Hegel, Marx… tất cả bọn họ cũng không cứu được chúng ta. Không còn giá trị nào là đáng tin nữa! Tôn giáo, chính trị, giáo dục và ngay cả cái thế giới tiêu dùng của những nhà tư bản dựng nên… tất cả chỉ là những ảo ảnh lừa mị để dẫn chúng ta đi theo lâp trình của trật tự thế giới.

Chúng ta nhớ ơn những người đi trước vì họ đã giữ cho chúng ta an toàn và cho ta điều kiện để tồn tại, chúng ta phải nhớ ơn họ vì họ đã sinh ra chúng ta. Nhưng chúng ta phải hiểu rằng xây dựng thế giới chứ không phải tàn phá thế giới là trách nhiệm của họ, và họ đã không thể hoàn thành được chỉ vì họ bị cuốn theo guồng máy cũ, vì thế giờ đây đó đã là trách nhiệm của chúng ta. Một thế giới mới cần được xây dựng trên nền thế giới cũ để bắt đầu cho một kỷ nguyên mới của chúng ta và con cháu chúng ta. Quy luật tự nhiên là mọi thứ khi rơi xuống tận cùng thì những gì đủ mạnh sẽ trở thành nhân tố để vượt lên. Thật mệt mỏi khi được sinh ra trong thời kỳ chuyển giao này nhưng cũng thật tự hào khi ở trong đó, bởi chúng ta đóng vai trò như những người xây dựng trong khi đám đông vô thức của hệ thống cũ đang tự tiêu diệt chính nó.

181017_601921679836064_110403562_nVà thưa các bậc tiền bối đi trước, xin các vị hãy lắng nghe chúng tôi. Có thể những lời tôi nói với các vị là một sự vô ơn, cực đoan và nông nổi, nhưng nếu không như thế thì làm sao gây chú ý cho các vị trong thời đại hỗn loạn thông tin này được!  Sự vận động của thế giới là không thể tránh khỏi và chúng tôi mong sao các vị đừng dùng những chuẩn mực của thế hệ mình để xét đoán chúng tôi. Chúng tôi cũng như các vị, chúng ta đều đang sống trong một thế giới suy tàn, chúng ta thừa mứa vật chất nhưng thiếu thốn tinh thần, chúng ta thừa thãi bản năng nhưng thiếu thốn tình yêu, chúng ta cuồng vọng mà không có niềm tin trong sáng. Các vị hãy thử nhớ lại tuổi trẻ của mình, tuổi trẻ với sự khát khao lý tưởng, không thể chấp nhận một thế giới lộn ngược các giá trị, và các vị đã phẫn nộ như thế nào? Và các vị được dậy rằng đời sống cảm xúc chỉ mang lại thất bại, những gì trong trí tưởng tượng chỉ là trò trẻ con vô giá trị, các vị bị buộc phải sống đời sống thực tế và bị cài cắm bởi các mục đích do hệ thống cũ tạo ra. Dần dần, các vị đã quên rằng các vị từng có thời giống chúng tôi. Nếu các vị thất bại với hệ thống cũ, tại sao còn muốn lôi chúng tôi vào đó. Nếu các vị thành công với nó, vậy còn có ý nghĩa gì khi muốn chúng tôi lặp lại con đường các vị đã đi.

Nếu các vị yêu thương chúng tôi, xin các vị hãy để chúng tôi được tự do với những suy tưởng, những lối sống của mình. Nếu các vị có trách nhiệm với chúng tôi, xin các vị hãy tạo dựng những nền tảng vững chắc để trên đó chúng tôi có thể học tập, nghiên cứu, thực hiện những lý tưởng chúng tôi mong muốn. Làm ơn, đừng cài cắm điều gì vào đầu chúng tôi thêm nữa, đừng lên giọng phán xét chúng tôi, cũng đừng biến chúng tôi trở thành những quân cờ để thực hiện những mục đích chưa đạt được của các vị. Với chúng tôi, chỉ tình yêu thương và tinh thần trách nhiệm là đủ. Và nếu chúng tôi có vô tình không biểu lộ sự đáp lại tình yêu đó của các vị thì các vị cứ yên tâm rằng tất cả tình yêu và tinh thần trách nhiệm đó chúng tôi cũng sẽ chia sẻ lại cho thế hệ tiếp theo, như một sự “đền ơn nối tiếp”. Hãy để chúng tôi được là chính chúng tôi, chúng tôi xây dựng thế giới theo ý chúng tôi mong muốn, và nền tảng tư tưởng để duy trì nó chỉ đơn giản chỉ dựa trên tình yêu thương và trách nhiệm.

Và hỡi những người bạn của tôi, dù bạn đang ở đâu, bạn đang làm gì, dù bạn có ở cùng thế hệ với tôi hay ở thế hệ trước đó hoặc sau đó, nếu những điều tôi đang nói đây là cùng một suy nghĩ với bạn, xin hãy cùng lên tiếng. Nhưng lên tiếng thôi chưa đủ, sau đó bạn cần suy nghĩ. Hãy thử suy nghĩ xem sau tất cả những tuyệt vọng, cô đơn, lạc lõng… sau tất cả sự phẫn nộ… chúng ta sẽ làm gì cho thế giới chúng ta đang sống. Tôi mong sao chúng ta có thể tách ra mọi tư tưởng tôn giáo hay chính trị, mọi sự ràng buộc về đời sống tiêu dùng, chỉ trong giây lát thôi chúng ta có thể nhận thấy được chúng ta cần làm gì cho đời sống này. Internet – một sản phẩm quan trọng của thế hệ trước giờ đây đang thể hiện tính hiệu quả mạnh mẽ trong quá trình tạo nền tảng cho thế hệ chúng ta để đẩy chúng ta đến gần nhau hơn. Tôi muốn nói rằng chúng ta không đơn độc, chúng ta có nhau, chúng ta có cùng ý tưởng rằng con người đơn thuần là con người, không phải sinh vật chính trị, không phải những con chiên, không phải kẻ tử vì đạo, không phải những người tiêu dùng. Và tôi mong sao các bạn có thể lột bỏ mặt nạ của mình, cùng đứng dậy trải nghiệm cuộc sống, rồi cùng nhau chung tay tạo dựng một thế giới mới xanh hơn, thịnh vượng hơn và yêu thương hơn.

Scridb filter

]]>
http://phiatruoc.info/hay-tu-hao-vi-su-lac-long-cua-ban/feed/ 0
Tìm kiếm một vài người cộng sản tốt tại Việt Nam http://phiatruoc.info/tim-kiem-mot-vai-nguoi-cong-san-tot-tai-viet-nam/ http://phiatruoc.info/tim-kiem-mot-vai-nguoi-cong-san-tot-tai-viet-nam/#comments Thu, 22 Aug 2013 21:52:02 +0000 tapchiphiatruoc http://phiatruoc.info/?p=11634 Miên Thy chuyển ngữ, CTV Phía Trước
Theo The Bloston Globe

Rõ ràng, Việt Nam không thể tìm đủ những người cộng sản. Tháng trước, chính phủ đã ra quyết định miễn học phí chương trình đại học cho các sinh viên chuyên nghiên cứu ngành chủ nghĩa Mác–Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Sinh vien đại-họcNhưng đằng sau quyết định này là gì? Trớ trêu thay lại là lực lượng thị trường. Thực tế đối với các sinh viên thì các ngành như tiếng Anh, truyền thông, du lịch, quan hệ quốc tế lại dễ tìm việc làm hơn ngành nghiên cứu triết lý của các ông cha Cộng sản Việt Nam.

Một trong những người sử dụng Facebook châm biếm, “Ngành Mác–Lê và tư tưởng Hồ Chí Minh không khó để tìm công việc làm – nhưng phải nói là không thể!”.

Việt Nam vẫn còn bị cai trị bởi chế độ cộng sản độc đảng, nhưng các lãnh đạo tại đây đã chấp nhận chính sách Đổi mới, đưa ra một loạt những cải cách cần thiết chuyển hưởng theo thị trường tự do trong những năm 1980. Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang dẫn đầu khu vực giữa lúc các nền kinh tế châu Á khác bị trì trệ bởi sự tăng trưởng chậm chạp tại Trung Quốc.

Tuy nhiên, công việc tốt vẫn còn rất khó tìm. Khoảng 60 phần trăm trong số 90 triệu dân tại nước này hiện đang ở dưới độ tuổi 30. Dựa trên những phản ứng từ các trang truyền thông xã hội và các nơi khác thì việc miễn học phí – có thể lên đến 6.000 USD mỗi năm tại các trường đại học tư – có vẻ vẫn không đủ để thuyết phục giới trẻ Việt Nam đăng ký học ngành này vì tương lai hiện đang phát triển theo chiều hướng chủ nghĩa tư bản. Trong một đất nước không có đối lập chính trị rõ ràng thì có lẽ bất đồng chính cũng đã kiến ​​đủ.

© 2013 Bản tiếng Việt TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC – www.phiatruoc.info

Scridb filter

]]>
http://phiatruoc.info/tim-kiem-mot-vai-nguoi-cong-san-tot-tai-viet-nam/feed/ 5
Chuyên ngành Mác–Lê và tư tưởng Hồ Chí Minh ‘không áp dụng được vào cuộc sống’ http://phiatruoc.info/chuyen-nganh-mac-le-va-tu-tuong-ho-chi-minh-khong-ap-dung-duoc-vao-cuoc-song/ http://phiatruoc.info/chuyen-nganh-mac-le-va-tu-tuong-ho-chi-minh-khong-ap-dung-duoc-vao-cuoc-song/#comments Fri, 16 Aug 2013 22:14:01 +0000 tapchiphiatruoc http://phiatruoc.info/?p=11598 Đỗ Đăng Khoa chuyển ngữ, CTV Phía Trước
The New York Times/AP

HÀ NỘI, Việt Nam – Lực lượng thị trường hiện đang đi ngược đường với trình độ đại học chuyên hệ tư tưởng Marx, Lenin và Hồ Chí Minh tại Việt Nam, nơi mà chính quyền cộng sản phải viện đến phí học bỗng để thu hút sinh viên.

MacLeNinThủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký một nghị định cho phép sinh viên học miễn phí cho các khóa học bốn năm tại các trường đại học nhà nước về chủ nghĩa Mác-Lênin và các tác phẩm của Hồ Chí Minh – anh hùng cách mạng của đất nước.

Nhiều sinh viên đã xa lánh các khóa học như vậy bởi vì các nhà tuyển dụng không quan tâm đến những chương trình này, ông Phạm Tấn Hạ, Trưởng phòng Tuyển sinh và Đào tạo tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh nói. Các loại bằng cấp trong các môn như truyền thông, du lịch, quan hệ quốc tế và tiếng Anh thường phổ biến hơn bởi vì học sinh tin rằng “họ sẽ có cơ hội tốt hơn khi tìm kiếm việc làm và được trả lương cao hơn sau khi tốt nghiệp”, ông nói.

Theo nghị định này, nhà nước cũng sẽ trả học phí cho những sinh viên học ngành y tế theo một vài chuyên ngành đặc biệt như làm thế nào để điều trị bệnh lao và bệnh phong. Thông thường, họ sẽ phải trả mức học phí khoảng 200 USD mỗi năm.

Tất cả các sinh viên tại Việt Nam đều phải học ít nhất ba lớp về chủ nghĩa Mác–Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng ít có sinh viên nào đi xa hơn với yêu cầu tối thiểu trên.

Mặc dù Việt Nam đang bị cai trị bởi Đảng Cộng sản nhưng nước này chấp nhận các chính sách dựa trên kinh tế thị trường trong những năm 1980. Hơn 60 phần trăm trong 90 triệu người tại đây hiện đang ở dưới độ tuổi 30. Việc cạnh tranh để tìm được công việc với mức lương tốt trong khoảng 500.000 sinh viên tốt nghiệp mỗi năm là điều không dễ dàng.

“Nghiên cứu chủ nghĩa Mác–Lênin khá khô cứng và nhiều sinh viên không thích”, Trần Thế Anh, năm nay 23 tuổi, sinh viên năm thứ năm chia sẻ.

“Số lượng sinh viên theo học các khóa học này hiện rất khiêm tốn bởi vì nhiều người trong số họ tin rằng không thể tìm được việc sau khi tốt nghiệp”.

Phan Thị Trang, sinh viên khoa dược, thừa nhận rằng các khóa học này có thể có những môn thú vị nếu cô ấy nghiên cứu chúng kỹ hơn. Nhưng “những môn học này không áp dụng được vào cuộc sống hàng ngày của tôi”, cô cho biết.

© 2013 Bản tiếng Việt TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC – www.phiatruoc.info

Scridb filter

]]>
http://phiatruoc.info/chuyen-nganh-mac-le-va-tu-tuong-ho-chi-minh-khong-ap-dung-duoc-vao-cuoc-song/feed/ 2
Mĩ: siêu cường trong lĩnh vực giáo dục http://phiatruoc.info/mi-sieu-cuong-trong-linh-vuc-giao-duc/ http://phiatruoc.info/mi-sieu-cuong-trong-linh-vuc-giao-duc/#comments Thu, 11 Jul 2013 00:36:47 +0000 tapchiphiatruoc http://phiatruoc.info/?p=11390

Phạm Nguyên Trường dịch
Collinz Randall, russ.ru

Sức mạnh chủ yếu của hệ thống giáo dục đại học Mĩ là có nhiều trường, các trường rất đa dạng và có tổ chức phức tạp và có nguồn tài chính khác nhau.

Đại học Columbia ở New York, Hoa Kỳ

Đại học Columbia ở New York, Hoa Kỳ

Khác với nhiều quốc gia khác, Mĩ không có các trường đại học quốc gia trực thuộc trung ương. Nhiều trường nhận được tài trợ từ chính phủ liên bang, nhưng đa số các khoản tài trợ này là dành cho các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, nhờ đó mà nhà trường được dành một phần cho công tác quản lí. Điều đó làm cho một số chuyên gia nổi tiếng có ảnh hưởng rất lớn. Và khi họ chuyển từ trường này sang trường kia, ảnh hưởng đó làm cho người ta tin rằng họ sẽ được đối xử một cách xứng đáng.

Tất cả các bang đều có trường đại học công lập, giữa những trường này cũng có sự cạnh tranh. Thường thì mỗi bang đều muốn có mấy loại hình trường đại học công lập: a) trường đại học tinh hoa, hướng vào công tác nghiên cứu – thí dụ như trường đại học của bang California, trường đại học của bang Michigan; b) những trường đại học giành cho đại chúng, không phải tinh hoa; c) mỗi trường lại có rất nhiều phân hiệu – thí dụ như đại học California ở Los-Angeles, đại học California ở Berkeley, đại học California ở San-Diego; d) trường cao đẳng với chương trình học tập kéo dài hai năm, dành cho những họcsinh không đủ điểm vào những trường đại học có uy tín hơn. Tất cả những loại hình trường lớp này bảo đảm công ăn việc làm cho các giáo viên (những người thường tốt nghiệp các trường ưu tú). Như vậy là những trường đại học bình thường gián tiếp ủng hộ những trường ưu tú.

Các trường đại học tôn giáo cũng có tình hình tương tự. Vì Mĩ không có tôn giáo của nhà nước cho nên các tôn giáo khác nhau đều tìm cách mở trường đại học của riêng mình. Bang nào cũng có những trường như thế và hầu như tôn giáo nào cũng có trường riêng.

Các trường tư thục như Harvard University, Yale, Princeton, Stanford, Duke University, Chicago, Pennsylvania (mặc dù gọi là trường University of Pennsylvania, nhưng đây là trường tư, còn trường đại học quốc gia ở bang này lại có tên lên Pennsylvania State University) là những trường có uy tín nhất.

Uy tín của các trường này là do đấy là những trường lâu đời nhất, khởi kì thủy là do các giai cấp trên xây dựng lên và thành phần sinh viên quyết định tính kế thừa địa vị tinh hoa của chúng. Trong suốt hàng chục năm ròng, các trường này có thể lôi kéo những giáo sư tài ba nhất đến làm việc ở đấy. Các trường này cũng thường xuyên tìm được tài trợ cho các công trình nghiên cứu và trở thành những trung tâm đầu tư từ ngân sách nhà nước.

Các trường mang tính thương mại. Đây lả những trường xuất hiện chưa lâu, uy tín không cao. Thí dụ như University of Phoenix – đây là loại trường buổi tối, giá rẻ, giành cho những sinh viên muốn có một số nghề nghiệp nhất định.

Những kiểu trường đại học khác nhau – quốc gia, tôn giáo, tư thục – thường xuyên tìm cách bắt chước nhau. Thí dụ như các trường Thiên chúa giao không quá lệ thuộc vào những vấn đề tôn giáo và có thuê các các giáo sư không phải là người Thiên chúa giáo. Nhiều trường đại học Tin lành tìm cách chuyển thành các trường thế tục.

Các trường đại học Mĩ có thể bảo đảm được quyền tự chủ là vì họ có nhiều nguồn cung cấp tài chính:

– tài trợ của nhà nước (nhà nước trực tiếp cung cấp tài chính cho các trường đại học quốc gia, cũng như tài trợ cho công tác nghiên cứu và học bổng cho sinh viên);

– đóng góp của sinh viên, những khoản đóng góp này cũng góp phần bảo đảm sự tự chủ khỏi việc kiểm soát của nhà nước;

– đóng góp mang tính từ thiện – từ những người giàu có, các công ty và sinh viên đã ra trường. Cung cấp tiền cho các trường đại học là vấn đề uy tín. Những trường đại học nổi tiếng nhất thường mang tên người sáng lập  (Harvard, Yale, Stanford, Duke). Đôi khi người ta tìm cách vinh danh những người bảo trợ giàu có bằng cách gắn tên tuổi của họ với một trong những tòa nhà của trường;

– thể thao cũng là nguồn thu nhập đáng kể. Trong thế kỉ XX, trường đại học có thể trở thành nổi tiếng nếu có một đội bóng đá hay bóng rổ mạnh. Trường có thể có thu nhập khá lớn từ bán vé các trận đấu, bán quyền truyền hình và bán quần áo thể thao với biểu tượng của đội… Ở các nước khác, thể thao thường tách khỏi nhà trường. Vì vậy mà không ở đâu có nguồn thu như thế. Kết quả thật bất ngờ là những trường nổi tiếng nhất không phải là những trường có trình độ giáo dục cao nhất mà lại là những trường có đội thể thao thành công nhất.

* * *

Do có nhiều nguồn thu cho nên cả doanh nghiệp lẫn chính phủ đều không thể kiểm soát được hoàn toàn trường học. Đấy là bảo đảm cho sự tự chủ của nhà trường. Làm thế nào mà chuyện đó có thể nâng cao được năng suất trong lĩnh vực trí tuệ và làm cho Mĩ trở thành nước giữ thế thượng phong về mặt trí tuệ trên thế giới? Các trường đại học tìm cách mời những giáo sư nổi tiếng nhất và có năng suất cao nhất và thường thì các trường của Mĩ cũng có điều kiện trả họ mức lương cao hơn và sự tự chủ để các giáo sư có thể thực hiện được những ý tưởng của mình.

Một tác nhân quan trọng khác – cơ cấu bên trong, các trường đại học Mĩ có rất nhiều giáo sư trong từng lĩnh vực. Đấy là sự khác biệt với hệ thống giáo dục truyền thống của châu Âu – nơi “mỗi ngành chỉ có một giáo sư”. Các trường đại học Mĩ thường tìm cách thành lập những khoa lớn với nhiều giáo sư trong mỗi lĩnh vực, điều đó đã chuyển trung tâm quyền lực lãnh đạo của trường xuống các khoa. Như vậy nghĩa là các khoa trở thành trung tâm cải tiến. 

Từ sau Thế chiến II, hệ thống giáo dục Mĩ đã chiếm được những vị trí đầu tầu trên thế giới. Một phần là do sự suy sụp của các trường đại học ở Đức (chiến tranh và chủ nghĩa quốc xã). Mĩ đã được lợi vì nước này thu nhận những giáo sư-nhập cư tài giỏi nhất vào các trường đại học của mình. Nhiều giáo sư hiện nay là học trò của những người di dân thuở nào. 

Năm 1945 cũng là thời điểm mà giáo dục đại học Mĩ trở thành đại chúng: tỉ lệ thanh niên theo học đại học từ 10 phần trăm đã tăng dần và hiện chiếm tới lên 60 phần trăm. Điều này làm gia tăng nhu cầu số lượng trường đại học, giáo viên và kết quả là gia tăng những cơ cấu khuyến khích sáng kiến. Ở Pháp thì lại khác, các trường đại học ở nước này bị giới hạn bởi cơ cấu của trung ương. Các trường ở Anh, tuy có được khá nhiều quyền tự chủ, nhưng càng ngày càng bị chính phủ áp lực vì họ hầu như chỉ có một nguồn tài trợ duy nhất là ngân sách.

* * *

Hiện nay các trường đại học Mĩ cũng gặp một số khó khăn tạm thời. Từ khi các trường tinh hoa nhận được nhiều tiền quyên góp của các cá nhân thì họ cũng trở thành những tay chơi có máu mặt trên thị trường chứng khóan, vì vậy mà cùng với sự suy thoái kinh tế trong hai năm vừa qua, họ đã phải đưa ra những kế hoạch tài chính mang tính bảo thủ hơn. Nhưng đây chỉ là một trong những nguồn thu cho nên tôi nghĩ rằng nó cũng không có ảnh hưởng lớn đối với tính tự chủ của họ.

Trong các môn khoa học tự nhiện, có sự hợp tác gắn bó giữa giới doanh nghiệp và các trường thực hiện những dự án nghiên cứu đặc thù. Một số nhà phê bình phàn nàn rằng điều đó sẽ buộc các trường phải quên đi lí tưởng là tìm kiếm kiến thức và làm cho họ có thói hám lợi. Áp lực là có, nhưng cũng có những tác nhân cân bằng khác: tầm quan trọng của việc giữ các giáo sư nổi tiếng trong cùng một khoa, điều này sẽ thúc đẩy những hoạt động thuần túy trí thức. Tuy nhiên, phát minh vĩ đại hay lí thuyết mới vẫn là phương pháp tạo uy tín tốt nhất. Nhiều giáo sư đại học còn thể hiện sáng kiến riêng bằng cách đưa phát minh của mình ứng dụng vào lĩnh vực thương mại. Thí dụ như sự bùng nổ của công nghệ sinh học trong mấy năm gần đây. Vì vậy mà không được coi hoạt động nghiên cứu của các trường đại học hoàn toàn là do nhu cầu của doanh nghiệp. Hơn nữa, nhiều xí nghiệp công nghệ cao lại làm cho người ta liên tưởng tới khuôn viên đại học. Các xí nghiệp này bắt chước cách làm việc của trường đại học.

Nhưng cũng không nên cường điệu sự độc quyền về trí tuệ của các trường đại học Mĩ. Trong những lĩnh vực trí tuệ như triết học, văn học và xã hội học, trung tâm tri thức thế giới trong 50 năm lại đây có lẽ nằm ở Paris. Chuyện đó xảy ra là do sự kết hợp một cách tài tình những trường đại học tinh hoa, ngành in ấn và công nghệ truyền thông, trung tâm chính trị và thế giới nghệ thuật của Pháp – từ đó mới có các “nhà tư tưởng” nổi tiếng của Pháp như Sartre, Lévi-Strauss vả Bourdieu, những người nổi tiếng cả ở bên ngoài khuôn viên đại học. 

Mĩ không có cơ chế như thế – các nhà trí thức Mĩ thường phàn nàn về chuyện đó. Washington là trung tâm chính trị chứ không phải là trung tâm trí thức; New York và Los-Angeles là trung tâm truyền thông, ở đấy cũng có một số trường đại học tốt, nhưng các thành phố này không phải là thủ đô và cũng không giữ thế thượng phong trong thế giới đại học. Các trường  đại học lớn nằm ở Boston, Chicago, San-Fransisco, Philadelphia, và nhiều thành phố nhỏ hơn như Princeton hay New-Haven. 

Collinz Randall là nhà xã hội học, triết học khoa học người Mĩ, chủ tịch hiệp hội xã hội học Mĩ. Trong những năm 1970 ông là một trong những sáng lập viên tạp chí “Theory and Society”. Hiện nay ông đang dạy tại trường đại học Pennsylvania và là thành viên ban biên tập tạp chí  “Social Evolution & History”.

Trích từ Tia Sáng

 

Scridb filter

]]>
http://phiatruoc.info/mi-sieu-cuong-trong-linh-vuc-giao-duc/feed/ 2
Cấm sách, sách cấm http://phiatruoc.info/cam-sach-sach-cam/ http://phiatruoc.info/cam-sach-sach-cam/#comments Mon, 08 Jul 2013 20:23:54 +0000 tapchiphiatruoc http://phiatruoc.info/?p=11358 C.D. [1]

Ở vào thế kỷ hai mươi, là thế kỷ mà thiên hạ làm phách, hô lớn lên hai chữ tự do, nói rằng đâu đâu cũng phải tôn trọng sự tự do, đâu đâu cũng phải tôn trọng quyền ngôn luận, quyền xuất bản nầy, bỗng dưng nghe đến hai chữ “cấm sách” thì há chẳng phải là một sự lạ hay sao? Song le, là lạ cho ở xứ nào kia, còn xứ nầy, sự ấy đã ra như cơm bữa rồi, không còn lạ gì nữa.

Phan Khôi (1887-1959) là một học giả tên tuổi, một nhà thơ, nhà văn, về sau đứng trong trong nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm.

Phan Khôi (1887-1959) là một học giả tên tuổi, một nhà thơ, nhà văn, về sau đứng trong trong nhóm Nhân văn – Giai phẩm.

Sự cấm sách đã không phải là lạ, thì dầu viết ra một cuốn sách mà bàn về sự ấy, chắc cũng không ai cho là lạ, huống chi viết sơ một vài cột báo mà bàn, thì lại là sự rất thường. Duy có một vài cột báo, viết thế nào mà có hiệu lực mạnh làm sao, đến nỗi ngày nay báo ra, ngày mai phế lịnh cấm sách, nếu được vậy thì lại là sự lạ hơn.

Nhưng mà có đâu! Chúng tôi làm gì có phép thông thần ấy? Mà dầu cho ai nữa cũng không có.

Vậy thì chúng tôi viết đây để làm chi? Định nói cái gì?

Không, chúng tôi nói rất tầm thường, không có gì lạ. Như một đứa con nít khi kẻ lớn bảo ngồi yên trên giường thì chúng tôi cũng ngồi yên, không dám vùng dậy chạy, song chỉ lấy tay mó máy cái này cái kia, hay là rúc rích đôi chút mà thôi.

Vài năm nay, cả ba kỳ ta nơi nào cũng có cấm sách, mà cấm nhiều nhứt là Trung Kỳ rồi đến Bắc Kỳ, vậy phải lấy tình thiệt mà khai rằng ở Nam Kỳ có rộng rãi hơn, có dễ thở hơn. Ấy nhưng mà phân biệt như vậy có làm gì, hễ đã cấm thì bất luận ít nhiều, đều mang tiếng chung là cấm sách cả.

Mà có mang tiếng cũng không làm sao, có ngại gì cái đó. Không lẽ muốn tránh tiếng rồi để cho những sách bậy bạ được lưu hành tự do mà không cấm.

Ủa mà có sách gì lại là sách bậy bạ? Dâm thơ chăng? Yêu thơ chăng? Không biết. Hễ cho là bậy bạ thì nó là bậy bạ.

Cấm thì cấm. Nhưng mà tốt hơn là nên cho biết tại làm sao mà cấm.

Một cuốn sách, in ra cốt để bán, cũng như con người có chơn để đi xứ nọ xứ kia. Nay ví phỏng an trí một người nào ở một nơi mà không cho đi đâu, thì người ấy tức là người có tội rồi, mà trước khi an trí đó, tòa án phải tuyên minh tội trạng của người ấy. Cấm một cuốn sách mà không cho bán, cũng vậy, cũng nên tuyên minh tội trạng của nó.

Hiện nay có nhiều cuốn sách bị cấm mà không hiểu vì cớ gì. Mà cũng không ai đem sự ấy ra kêu nài. Phải, không kêu nài là phải, vì có buộc tội thế nào đó, thì mới có chỗ đôi co; còn như cứ chiếu theo đạo luật chỉ có một chữ ( chữ Cấm ( mà thi hành, thì còn ai nói năng gì được nữa?

Hay là không cho ai nói năng gì được như vậy là đắc sách? Có lẽ. Nhưng mà thường thường hễ người ta không nói ra cho hả hơi được thì lại cứ bực tức trong lòng.

(Tòa kiểm duyệt bỏ hết một đoạn.)

Mà chưa biết chừng, hoặc giả vì sách vở đặt câu không nên thân mà cấm đi chăng ; nếu vậy thì lại là may phước cho học giới ta biết chừng nào.

*

Trên đó là cấm sách; dưới đây là sách cấm.

Một cuốn sách, bất kỳ nội dung nó ra làm sao, cứ để yên không cấm thì người ta coi như thường. Dầu có lắm người khích thích vì nó chăng nữa, song cũng còn có lắm người coi như thường. Ðến cấm đi một cái, thì hết thảy ai nấy đều chú ý vào nó. Cấm đi, là muốn cho người ta đừng đọc, mà không ngờ lại làm cho người ta càng đọc!

Người ta nói rằng một pho tượng gỗ đã sơn thếp rồi mà chưa khai quang điểm nhãn thì nó chưa linh, đến chừng khai quang điểm nhãn rồi thì nó mới linh. Ấy vậy, cấm cuốn sách nào, tức là khai quang điểm nhãn cho cuốn sách ấy.

Cho nên ở ta đây đã có nhiều sách linh lắm, có nhiều cuốn đã hiển thánh rồi. Việt Nam vong quốc sử và Hải ngoại huyết thơ đã hiển thánh hai mươi năm nay; còn mới đây Một bầu tâm sự cũng đòi đạp đồng ngang lên nữa.

Thiên hạ họ mua sách cấm mắc tiền lắm, thường giá mắc gấp đôi lúc chưa cấm, lâu ngày, rồi đến gấp mười gấp trăm. Tức như dân An Nam là dân không ham đọc sách, hay tiếc tiền, mà đến sách cấm thì cũng trằn trọc trằn xa mua cho được. Mua rồi đọc chùng đọc vụng, ai biết đâu mà bắt.

Người Tàu đương đời Mãn Thanh, vào khoảng Khương Hy, Kiền Long, có nhiều bộ sách bị cấm, mà cấm chừng nào thì người ta lại càng đọc và càng lấy làm thích chừng nấy. Có người đời bấy giờ đã nói: “Các cái vui ở thế gian không cái nào bằng trong đêm có tuyết, đóng cửa lại mà đọc sách cấm”. (Nguyên văn bằng chữ Hán: Thiên hạ chi lạc mạc quá ư tuyết dạ bế môn độc cấm thơ).

Ở đất nhà Nam ta, chỉ có mây mù mà không có tuyết, làm cho giảm mất cái thú vui trong khi đọc sách cấm. Song le, đã có cái thú khác thế vào. Có người đã phát minh ra được và nói rằng: “Không có cái thú gì bằng cái thú trong lúc trời mưa, đóng cửa cho chặt lại, rồi……đọc sách cấm!”

Cái thế lực của sách cấm là như vậy, còn cấm sách nữa thôi? …

Ðông Pháp thời báo, Sài Gòn, s.763 (1.9.1928)


[1]C.D. là chữ viết tắt bút hiệu Chuơng Dân của Phan Khôi

Trích từ Phan Khôi – a Tác phẩm đăng báo 1928, Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn do NXB Đà Nẵng và Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông-Tây xuất bản, 2003.

Scridb filter

]]>
http://phiatruoc.info/cam-sach-sach-cam/feed/ 5
Bàn về vấn đề giáo dục kĩ năng sống cho học sinh http://phiatruoc.info/ban-ve-van-de-giao-du%cc%a3c-ki%cc%83-nang-song-cho-ho%cc%a3c-sinh/ http://phiatruoc.info/ban-ve-van-de-giao-du%cc%a3c-ki%cc%83-nang-song-cho-ho%cc%a3c-sinh/#comments Tue, 02 Jul 2013 18:10:22 +0000 tapchiphiatruoc http://phiatruoc.info/?p=11326 Linh Sơn, CTV Phía Trước

Một trong những vấn đề đáng lo ngại của giáo dục nước ta hiện nay là quá thiên về dạy lí thuyết chuyên sâu mà quên gắn liền nó với ứng dụng trong đời sống. Bên cạnh đó, chúng ta chỉ mới cung cấp cho các em những tri thức khoa học ở dạng hàn lâm mà chưa trang bị cho các em những kĩ năng sống cơ bản hàng ngày các em cần có để xử lí tình huống bất ngờ mắc phải. Sẽ rất là vô lí nếu một học sinh giải nhất quốc gia môn toán hay thủ trường khoa đại học lại không biết cầm máu cho người đứt tay. Nhưng đó lại là một hiện tượng phổ biến mà ta bắt gặp trong giới thanh niên hiện nay.

Tôi rất tâm đắc khi phát hiện ra một điều thú vị khi xem các bộ phim kinh dị của Hollywood: Những kẻ nói nhiều, cá nhân, manh động thì chết trước. Người sống cuối cùng trong các tình cảnh nguy kịch là người có bản lĩnh sống, có tri thức, quả cảm và quyết đoán… Ở đây có nhiều phương diện, nhưng trong đời sống hiện đại tri thức về đời sống thực tiễn là một điều đáng được đề cao nhất.

Kĩ năng đi kèm với thực hành

kynangTình cờ tôi xem bộ phim “Cá mập hai đầu”, bên cạnh chức năng giải trí là một cách đề nghị rất hay về ý thức sống cho giới trẻ. Một nhóm sinh viên bị mắc trên hòn đảo sắp chìm và có nguy cơ bị cá mập hai đầu tấn công. Con tàu của họ thì cách xa hòn đảo, lại đang bị nhiều lỗ thủng và vết nứt. Vậy làm cách nào để tự cứu mình? Muốn cứu phải liều mình xuống đáy tàu hàn vết nứt. Nhưng có lòng dũng cảm thôi vẫn chưa đủ. Làm cách nào để hàn được vết nứt mà không bị con quái vật tấn công? Đã có một cô gái dũng cảm biết hàn sắt, còn thiếu một bản lĩnh trí tuệ. Thế là chàng sinh viên nảy ra ý tưởng, tận dụng máy phát điện trên đảo, tạo sóng điện từ ở một bến trên đảo dụ con cá vào đảo, gây nhiễu hạn chế sự phát hiện của nó đối với người hàn sắt. Trong lúc đó cô gái nhanh chóng lặn xuống đáy thuyền vá vết nứt…. Đó chỉ là một cách gợi ý để chúng ta thấy, làm sao vận dụng linh hoạt kiến thức vật lí vào trong đời sống thực tại mà giáo dục Mỹ rất chú trọng.

Còn hiện nay sẽ không thừa để chúng ta lo ngại, liệu một học sinh gặp người gảy xương đùi sẽ làm gì trong khi đã học môn sinh về cấu tạo xương chân? Một học sinh có biết cách sơ cứu đối với người hôn mê bất tỉnh đột ngột? Làm cách nào để dựng được một cái trại qua đêm? Bao nhiêu học sinh Việt Nam có thế sống sót khi rơi xuống nước? Thấy hỏa hoạn, học sinh có biết cách sử dụng bình chữa cháy? Thấy người bị rắn độc cắn phải làm sao để sơ cứu? Ứng xử với những người cuồng tín tôn giáo thế nào cho văn minh? Xử lí rau quả sống thế nào để khử đi độc chất hóa học?…

Câu trả lời mà tôi có thể dám chắc là có đến 95 % học sinh Việt Nam đã học xong cấp 3 chưa có khả năng giải quyết triệt để những tình huống đại loại như trên. Điều đó không phải lỗi ở các em mà chúng ta phải hiểu rằng giáo dục cần cung cấp cho các em những điều đó. Trong khi, không có môn học nào, bài học nào đảm bảo mang lại những kĩ năng này cho học sinh.

Hiện nay trong chương trình đổi mới, người ta đã có chú ý đến hướng đến rèn kĩ năng sống cho học sinh trong mỗi bài học. Nhưng tôi cho rằng vẫn chưa phải là cách làm mang đến kết quả, bởi đã là kĩ năng thì phải thực hành. Ngoài ra, không phải bất kì tình huống thực tiễn nào cũng có thể liên hệ qua bài học được. Do đó cách thức giáo dục kĩ năng sống cần có những bước bổ sung… Tôi cho rằng, kĩ năng sống muốn được hình thành thì học sinh phải tiêu hóa kiến thức và vận dụng chúng vào các trường hợp cụ thể.

Một thời chúng ta quá cực đoan về việc thu hẹp giáo dục ở trong 4 bức tường lớp học, đó là một sự thiếu sót nguy hiểm. Hầu hết các nước phát triển trên thế giới luôn rất đề cao giáo dục ngoài giờ lên lớp, các hoạt động ngoài trời không phải chỉ diễn ra thỉnh thoảng mang tính phong trào mà được tiến hành dày đặc, đều đặn, mỗi chuyến đi, các em học sinh lại được cọ xát thêm nhiều tình huống của đời sống. Chính những hoạt động ngoài trời này sẽ giúp các em giải tỏa tâm lí học tập bị bốn bức tường vây kín. Các hoạt động ngoài trời vừa giáo dục vừa có tác dụng cân bằng tâm lí, vừa chơi vừa học… Nhiều người vẫn đặt ra câu hỏi bao giờ mỗi ngày đến trường là một niềm vui mới với học trò. Xin trả lời chỉ khi nào ta từ bỏ cách giáo dục hàn lâm thiên về ghi nhớ mà chuyển sang cách dạy hướng đến thực tiễn, chú trọng kĩ năng hành động thì điều đó sẽ đến.

Thay đổi tư duy giáo dục

Thêm một điều đáng bàn đối với công tác chủ nhiệm. Có thể nói giáo viên chủ nhiệm là người ảnh hưởng quá trình hình thành nhân cách và nhận thức của học sinh nhiều nhất. Xưa nay theo lối dạy truyền thống, 45 phút sinh hoạt chủ nhiệm của giáo viên thường rất nặng nề, xoáy quanh các vi phạm của học sinh trong thi đua. Do đó đối với những học sinh cá biệt, ngày học cuối tuần là ngày đáng sợ nhất, dễ có tâm lí trốn học. Trong nghệ thuật sư phạm đề cao việc giáo viên chủ nhiệm tận dụng một tiết này để tổ chức trò chơi hay hướng dẫn kĩ năng sống sẽ có ích cho học sinh hơn. Tại sao trong mỗi buổi sinh hoạt người thầy không dành khoảng 10 phút để bàn về sự trở lạnh đột của thời tiết trong những tháng gần Tết đề các em biết giữ gìn sức khỏe? Tại sao không đặt ra tình huống một học sinh bị co giật cần sơ cứu vì bệnh hạ canxi? Tại sao không bàn về sự độc hại của rau quả hiện nay và đề xuất các em cách xử lí?… Có rất nhiều những khía cạnh trong đời sống mà một người thầy có tâm, biết chịu khó tìm hiểu sẽ tận dụng thời gian sẽ dạy cho học trò mình rất nhiều điều có ích trực tiếp cho cuộc sống.

Thật ra xưa nay các hoạt động bên Đoàn chính là hướng tới hình thành cho học sinh kĩ năng sống, song nó vẫn còn mang tính phong trào. Một khi giáo dục thay đổi tư duy và phương châm hành động, giáo dục kĩ năng sống không chỉ bó hẹp trong vài ba liên hệ trong bài học và vào hoạt động mang tính phong trào mà sẽ đưa nó vào tiêu chí đánh giá. Học thể dục về nhảy cao học sinh phải nhảy qua sà vậy tại sao học Ngữ Văn lại không được tạo môi trường hùng biện nói chuyện trước đám đông theo chủ đề?

Muốn có được điều này không khó, chỉ cần một giáo viên chủ nhiệm có sáng tạo sẽ luôn biết cách cung cấp cho học trò của mình những hiểu biết về đời sống không quá cao siêu, nhưng nếu không dạy các em sẽ không biết. Thậm chí đối với lĩnh vực tâm lí, sức khỏe, y tế chúng ta nên mời cả các chuyên gia. Ví dụ ở trường hợp các em học sinh ở tuổi dậy thì, vấn đề tính dục (chứ không phải tình dục) và tâm lí lứa tuổi rất cần có những hiểu biết thực tế mà không một bài học Sinh học nào có. Học lịch sử dân tộc mà không biết gì văn hay hóa, lích sử địa phương, không biết đến viện bảo tàng hay các địa danh lịch sử thì thật là thiếu sót. Thậm chí tổ chức cho các em có những kì đi thực tế. Tôi dám chắc, có đến 95 % HS Việt Nam không có kĩ năng sưu tầm sử dụng bản đồ các tỉnh thành và sử dụng la bàn. Sẽ rất vô lí nếu một học sinh lại không nắm được bản đồ đường phố của thành phố mình đang sống, đặc điểm văn hóa, du lịch địa phương mình sống… Dạy sử, dạy văn, dạy địa theo sách là dạy từ cái bao quát cái chung. Nhưng nếu người thầy thụ động chỉ hướng đến bao nhiêu đó thì kết quả là học sinh lại có thể đọc vanh vách sử và địa Việt Nam nhưng không đủ tri thức để thuyết minh về văn hóa, địa lí, vùng miền mình sống…

Kĩ năng sống là thứ không có định khuôn sẵn, nếu mỗi địa phương, mỗi trường, mỗi người thầy tùy từng tình hình riêng sẽ dự đoán đưa ra những điều cần dạy cho học trò của mình. Ví dụ địa phương ở nơi bão, lũ, lụt, nhất thiết phải dạy học trò biết bơi. Là vùng có khí hậu lạnh hoặc gặp mùa nóng oi bức, học sinh nên có những hiểu biết và kĩ năng về y tế…Đối với môn vật lí, hoạt động chế tạo các Robot thông minh nên được khuyến khích…

Điều quan trọng là ta nên thay đổi tư duy giáo dục từ việc đào tạo các thế hệ thầy cô tương lai đến sự quản lí, tổ chức giáo dục. Và nên nhớ rằng, giáo dục tránh tình trạng cào bằng. Từ những quy định chung nhất của Bộ Giáo dục, mỗi tỉnh thành, mỗi trường, mỗi giáo viên sẽ chủ động, sáng tạo ra những cách giáo dục linh hoạt, thích ứng với điều kiện thực tiễn.

Hi vọng rằng đến kì cải cách 2015 này, vấn đề này sẽ được giải quyết triệt để.

© 2013 TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC

Scridb filter

]]>
http://phiatruoc.info/ban-ve-van-de-giao-du%cc%a3c-ki%cc%83-nang-song-cho-ho%cc%a3c-sinh/feed/ 3
Bạn đang làm gì với cuộc đời mình: Sáng tạo hay thụ động? http://phiatruoc.info/ban-dang-lam-gi-voi-cuoc-doi-minh-sang-tao-hay-thu-dong/ http://phiatruoc.info/ban-dang-lam-gi-voi-cuoc-doi-minh-sang-tao-hay-thu-dong/#comments Sun, 23 Jun 2013 18:03:20 +0000 ptadmin http://phiatruoc.info/?p=11270 Hà Thủy Nguyên
Book Hunter

“Vốn dĩ trên thế giới này làm gì có đường, người ta đi mãi rồi cũng thành đường thôi” – (“Cố hương” – Lỗ Tấn)

Trong nhiều thế kỷ, chúng ta được gieo rắc vào đầu ý tưởng rằng chúng ta chỉ là những quân cờ trong bàn tay của định mệnh. Từ “định mệnh” tiếng Anh là “fate”, có gốc từ “fata” – tên gọi ba vị thần nắm giữ sợi chỉ của số mệnh con người trong thần thoại Hy Lạp. Người Trung Quốc thì cho rằng mỗi người đều có “thiên mệnh”, tức là một sự sắp đặt nào đó của ông trời. Người Ai Cập cổ, người Ấn Độ cổ, người Do Thái, Thiên Chúa, Hồi giáo đều lý giải nguồn gốc của con người bắt đầu từ sự sáng tạo của Thượng Đế. Con người từ rất lâu đã quen với ý niệm về quà tặng, về sự may mắn, sự dựa dẫm, sự cứu rỗi, sự trừng phạt.. đều từ người sáng tạo, chỉ có một số rất ít bắt đầu đòi hỏi về quyền tự do ý chí. Những kẻ hiếm hoi và lạc bầy đó là những người đầu tiên lên tiếng đòi hỏi quyền được tạo tác hệ thống, đòi được tự mình điều khiển. Chính họ là những kẻ ăn cắp ngọn lửa thiêng của Olympia (1) , những kẻ dám ăn trái cấm (2) , những kẻ dám giương cung bắn rụng mặt trời (3).

Nhắc lại câu chuyện xa xưa, tôi muốn gợi cho các bạn một ý nghĩ: Không cần biết những truyền thuyết về nguồn gốc loài người là đúng hay sai, nhưng dễ dàng để nhận thấy một điểm chung, chúng ta đã quá quen với việc thụ động và bị điều khiển bởi ai đó hay một quy luật nào đó. Nhiều người sẽ phản ứng khi đọc câu này và nói rằng: “Không! Tôi đang làm chủ cuộc đời tôi! Tội tự kiếm ra tiền! Tôi hoàn thành tốt công việc của tôi! Tôi đấu tranh cho những điều đúng đắn!” Bạn không nhìn thấy những sợi xích, điều đó không có nghĩa là bạn tự do. Đó là nghệ thuật của những người đang kiểm soát hệ thống.

Khi bạn chào đời, bạn phụ thuộc hoàn toàn vào hệ thống, bạn không tự kiếm được thức ăn, bạn không thể tự bảo vệ, bạn không thể tự tạo ra ngôn ngữ. Những lời dạy dỗ của bố mẹ, thày cô giáo bỗng chốc trở thành tiếng gọi bên trong chi phối tâm trí của bạn. Khi lớn lên, bạn quên mất điều đó nhưng chúng vẫn tồn tại và ăn lan trong vô thức. Lớn lên, khi bạn đi học, nhà trường đưa ra cho bạn một loạt quy định và để sinh tồn suốt mười mấy năm học, bạn buộc phải tuân thủ mà không được phép chống đối. Và cứ thế, cứ thế… hết lần này lần khác… bạn cho rằng mọi sự số phận đã sắp đặt cho bạn. Đó là ảo tưởng.

Nhiều người cho rằng ở xã hội hiện đại chúng ta tự do nhiều hơn. Định luật vạn vật hấp dẫn của Newton, thuyết tiến hóa của Darwin …  đã đập tan sự ảnh hưởng thần thánh của Tạo Hóa đối với con người, đã giải phóng con người khỏi niềm tin mù quáng. Xã hội tư bản bắt đầu định hình, cơ sở vật chất phát triển, con người được nhiều quyền lợi mà trước đó không có, nhưng hãy thử nghĩ xem, chúng ta có thật sự được tự do. Thay vì gánh vác định mệnh của mình, chúng ta phải thực hiện cái được gọi là “vai trò xã hội”. Trong thời thần quyền và phong kiến, chúng ta chấp nhận định mệnh của mình bằng việc phục vụ thần thánh, đóng góp cho vua chúa… Trong xã hội đương đại, chúng ta có vẻ như chẳng phải phục vụ ai ngoài bản thân và gia đình.

Bây giờ tôi xin được kể một câu chuyện khác, dường như không ăn nhập gì nhưng lại rất liên quan đến chủ đề chúng ta đang nói. Câu chuyện này có thể là rất quen với các bạn: Một anh chàng sinh viên với hy vọng về sự thành công, để thành công, anh ta buộc phải học thật tốt kiến thức ở trường và ních cho đầy não những gì người ta dậy anh. Rời khỏi trường, anh ta nhận ra rằng mấy thứ vớ vẩn trường dậy chẳng giúp ích gì cho công việc tương lai của anh ta, anh ta phủ nhận chúng hoàn toàn. Anh ta bắt đầu thấy vấn đề dùng trang phục hàng hiệu, mua sắm xe đẹp, xuất hiện trong các nhà hàng sang trọng và ngoan ngoãn hoàn thành mọi yêu cầu của sếp… mới chính là con đường dẫn tới thành công. Anh ta nghĩ rằng anh ta đã làm chủ vận mệnh của mình. Thực ra anh ta đang làm công việc anh ta không thích, mua những đồ không xứng với giá trị thực và tiêu phí thời gian để nuôi sống kẻ khác chứ không phải bản thân mình. Quảng cáo, truyền thông nói rằng khi anh ta sử dụng những đồ xa xỉ ấy, giá trị bản thân anh ta sẽ được nâng cao và anh ta tin là như thế. Trên thực tế, anh ta chỉ là một kẻ tiêu thụ ngu ngốc tin vào lời dụ dỗ đốt tiền vào các mặt hàng để nuôi sống những ông chủ lớn. Hãy thử nhìn sự liên hệ, về bản chất niềm tin giá trị con người được nâng cao bằng đời sống xa xỉ trong xã hội hiện đại chẳng khác nào niềm tin về việc Chúa sẽ cho chúng ta lên Thiên Đàng nếu chúng ta ngoan ngoãn nghe lời.

GqGTuNhận việc. Đi làm. Cưới xin. Có con. Hợp thời trang. Hành động bình thường. Đi trên vỉa hè. Xem TV. Tuân thủ luật pháp. Để dành cho lúc về già. Nào, hãy lặp lại lời tôi: Chúng ta tự do.

Tôn giáo, chính phủ, truyền thông, tiền tệ, thương mại dịch vụ, giáo dục… tất cả những thứ đó đều biến bạn trở thành những kẻ thụ động của hệ thống. Trong một hệ thống luôn tồn tại ba dạng người: sáng tạo hệ thống, vận hành hệ thống và người tiêu thụ. Nhìn lại các hệ thống trong lịch sử, ta sẽ thấy rằng chỉ có một vài người sáng tạo hệ thống, rất ít người vận hành hệ thống và số còn lại, số đông là người tiêu thụ. Với mô hình đó, các hệ thống trong cùng một thời đại rất kém phát triển, ít tương tác và nguy cơ xung đột với hệ thống khác luôn là vấn đề hệ trọng? Tại sao lại vậy?

Trước hết, ta thấy rằng vai trò sáng tạo hệ thống thường bắt nguồn từ tôn giáo và triết học. Socrates định hướng các giá trị con người, Arisote đưa ra học thuyết chính trị và mô hình tư duy mẫu mực, Moses sáng lập Do Thái giáo, Christ sáng lập Thiên Chúa giáo, Thích Ca Mâu Ni sáng lập Phật giáo, Khổng Tử sáng lập mô hình nhà nước Nho giáo. Những người sáng tạo hệ thống, họ không bị ràng buộc bởi hệ thống, họ vô chính phủ, vô đạo đức, vô giáo dục, họ hướng tới một lý tưởng cao đẹp, họ là những “siêu cá nhân”. Ở xã hội hiện đại, họ là Monstequieu (4), Voltaire (5) , là những người phát minh ra máy tính, ra Internet, những người có thể giải mã bản đồ gene … Họ giữ vai trò là những kẻ đột biến và lây lan sự đột biến, sau đó hệ thống tự động hình thành.

Sự ra đi của những người sáng tạo hê thống bắt đầu nảy sinh lớp người kiểm soát và điều khiển hệ thống. Mọi lý thuyết của người sáng tạo được  nhắc đi nhắc lại như một sự cài đặt tâm trí với người trong hệ thống. Người trong hệ thống gần như không có quyền lựa chọn hoặc không biết đến quyền lựa chọn. Sự duy trì hệ thống bảo đảm quyền lợi của những người kiểm soát, thế nên không một người kiểm soát nào có nhu cầu phá hủy hệ thống. Và cứ thế, những người thụ động trong hệ thống trở thành công cụ để bảo vệ, thành thịt tươi để nuôi sống hệ thống. Nếu bạn đã đọc sách hoặc xem bộ phim “Cloud Atlas” được sản xuất năm 2012, bạn sẽ thấy hình ảnh của chính chúng ta trong những cô gái nhân bản vô tính. Chúng ta được sinh ra để phục vụ hệ thống, chúng ta làm theo mọi quy định hệ thống đặt ra, khi chúng ta hết giá trị sử dụng, chúng ta bị giết chết và đưa vào nhà máy sản xuất thức ăn để tái chế. Bạn có nhớ điều gì bắt ép các cô gái nhân bản phải tuân phục không? Sự đe dọa của chiếc vòng cổ tử hình và niềm tin được “thăng thiên” mà trên thực tế cả hai đều dẫn đến cái chết. Mọi hệ thống đều luôn kiểm soát bạn bằng hai cách: Đe dọa và tạo niềm tin. Mỗi thời đại khác nhau, mỗi hệ thống khác nhau, chúng lại có những hình thức khác nhau. Những người kiểm soát hệ thống cũ đều mong muốn hệ thống của mình được nhân rộng và sợ hãi khi thấy có hệ thống khác mạnh hơn hặc có khả năng đe dọa đến quyền lợi của mình. Bởi vậy, khi cố định thuộc một hệ thống, con người có xu hướng tẩy chay sự khác biệt bằng cách hủy diệt hoặc coi những gì bên ngoài hệ thống là tội lỗi, xấu xa, một dạng quỷ dữ.

Bạn có bao giờ thử hình dung rằng chính cuộc đời bạn là một hệ thống. Bạn tự sáng tạo ra hệ thống cho riêng bạn, bạn kiểm soát nó và bạn cũng là người trong nó? Điều này đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn việc trở thành một trong ba thành phần của hệ thống. Nhưng thời thế đã thay đổi. Con người giờ đây không bị giới hạn bởi duy nhất một hệ thống, họ có khả năng tham gia nhiều hệ thống một lúc hoặc không tham gia bất cứ hệ thống nào. Tuy nhiên, điều này chưa được biết đến nhiều. Phần lớn chúng ta, dù tìm mọi cách để phủ định, chúng ta vẫn cứ tin rằng chúng ta là những kẻ thụ động trong cuộc sống này, mọi con đường cứ bày ra trước mắt và chúng ta cứ thế mà  nhắm mắt đưa chân. Chúng ta chấp nhận những gì xã hội nhồi nhét vào đầu chúng ta, bằng lòng với loại kiến thức thứ cấp và bị dụ dỗ bằng những con mồi của thành công, của quyền lợi, của danh dự.

Mỗi chúng ta là một phần tử của hệ thống, không chỉ có thế, mỗi chúng ta là một phần tử của vũ trụ trong một tổng thể vững chắc. Khi một phần tử thay đổi, nó sẽ tạo thành phản ứng dây chuyền và tạo ra sự thay đổi toàn hệ thống. Bởi thế, vai trò của những người kiểm soát hệ thống chưa bao giờ là cần thiết cho sự phát triển, ngược lại, sự kiểm soát tạo ra giới hạn, thoái hóa và hủy diệt. Hãy tưởng tượng về những hệ thống chỉ có sự tiếp nối liên tục của chuỗi sáng tạo và biến đổi, sự ổn định được duy trì bằng các nguyên lý. Bạn lúc nào cũng vừa có thể là người sáng tạo, vừa có thể là người tiêu thụ. Chúng ta sẽ tự hình thành hệ thống lớn mà trong đó các hệ thống nhỏ trao đổi với nhau những giá trị mà mình tự tạo ra. Đó là mô hình lý tưởng mà tôi tin rằng bất cứ người sáng tạo nào cũng mơ ước.

Nhưng để tạo dựng điều đó không đơn giản. Nếu bạn có cùng một lý tưởng với chúng tôi, nếu bạn không chấp nhận mình là công cụ, là thịt tươi tái chế nuôi hệ thống, bạn hãy thay đổi. Không cần gì nhiều, bạn chỉ cần đứng lên và vùng lên chạy thật xa, cố gắng bứt khỏi vùng an toàn, bạn sẽ nhận ra rằng những sợi xích nào đang trói chân bạn? Khi nhận ra được sợi xích, bạn có cơ hội để thoát khỏi nó. Không thể thoát khỏi những hệ thống đang ràng buộc bạn, bạn sẽ không thể tạo hệ thống cho riêng mình, và điều đó có nghĩa bạn không có giá trị để trao đổi.

Bạn nói rằng điều tôi nói chỉ là không tưởng, chúng ta làm sao có thể thoát được hệ thống, vì thoát khỏi hệ thống này cũng sẽ chỉ rơi vào hệ thống khác. Có hề gì! Càng thoát được nhiều hệ thống, chúng ta sẽ càng tiến gần đến Sự Thật về con người. Tôi cho rằng, trên đời này, chẳng có hệ thống nào đáng để tuân phục hơn hệ thống vũ trụ. Và nếu có cách nào đó để tôi thoát khỏi hệ thống ấy, tôi cũng sẽ chẳng ngần ngại gì để chủ động vận hành vũ trụ, rồi một ngày nào đó có thể tôi rời bỏ hệ thống vĩ đại đó và khám phá một hệ thống khác bí ẩn hơn. Đó là con người tôi hướng tới, đó là con người tôi sẽ trở thành, đó là lý tưởng mà tôi đeo đuổi: Một con người tự do khám phá không bao giờ ngừng nghỉ.

———

(1)   Ám chỉ câu chuyện Prometheue ăn cắp lửa của Olympia cho loài người

(2)   Ám chỉ câu chuyện Adam và Eva trong Sáng Thế ký

(3)   Ám chỉ chuyện Hậu Nghệ bắn rơi 8 mặt trời

(4)   (5) Hai triết gia Khai Sáng của thế kỷ 18

Scridb filter

]]>
http://phiatruoc.info/ban-dang-lam-gi-voi-cuoc-doi-minh-sang-tao-hay-thu-dong/feed/ 0
Tuyên ngôn Tự do truy cập thông tin http://phiatruoc.info/tuyen-ngon-tu-do-truy-cap-thong-tin/ http://phiatruoc.info/tuyen-ngon-tu-do-truy-cap-thong-tin/#comments Fri, 07 Jun 2013 18:47:14 +0000 tapchiphiatruoc http://phiatruoc.info/?p=11175 Nuphero dịch
Aaron Swartz
, Guerilla Open Access

Thông tin là quyền lực, và cũng giống như mọi loại quyền lực khác, luôn có những người muốn giữ nó cho riêng mình.

Aaron Swartz. Ảnh: The Boston Globe

Aaron Swartz. Ảnh: The Boston Globe

Toàn bộ di sản khoa học và văn hóa, tích lũy qua nhiều thế kỷ, đang nhanh chóng được số hóa và giữ nằm trong vòng kiềm tỏa của các tập đoàn. Muốn đọc những công trình khoa học nổi tiếng vẫn thường được nhắc đến? Hãy kỳ vọng là bạn sẽ phải trả một số tiền lớn cho các nhà xuất bản.

Có nhiều người đang đấu tranh để thay đổi điều này. Phong trào Open Access đã dũng cảm đấu tranh cho một tầm nhìn mới: đăng các công trình khoa học lên mạng Internet dưới những điều khoản cho phép mọi người đều có thể truy cập, nhưng vẫn đảm bảo rằng các nhà khoa học không mất đi quyền sở hữu trí tuệ của mình. Nhưng kể cả khi mọi thứ diễn ra tốt đẹp nhất, viễn cảnh này cũng sẽ chỉ xảy ra với những công trình nghiên cứu trong tương lai mà thôi. Chúng ta sẽ không thể dễ dàng có được những công trình nghiên cứu từ xưa đến thời điểm hiện tại. Giá của chúng quá cao.

Bắt nghiên cứu sinh phải trả tiền để đọc được công trình của đồng nghiệp? Đi scan toàn bộ sách của các thư viện nhưng chỉ cho phép nhân viên ở Google được đọc chúng? Chia sẻ các bài báo khoa học cho những sinh viên các trường đại học tinh hoa ở các quốc gia Thế giới thứ nhất nhưng lại ngăn cấm mọi người ở những quốc gia nghèo? Thật vô nhân đạo và không thể chấp nhận được.

“Tôi đồng ý với anh, nhưng chúng ta có thể làm được gì?” “Các tập đoàn nắm giữ quyền bản quyền, kiếm được rất nhiều từ việc bắt người dùng trả tiền để truy cập, họ không dễ từ bỏ. Và hiển nhiên là cách của họ là hợp pháp; chúng ta chẳng có cách nào để ngăn cản họ.” Nhưng chúng ta có thể, làm theo cách chúng ta vẫn làm.

Có những người có quyền truy cập đến những tài nguyên đó-sinh viên, thủ thư, nhà khoa học-được miễn phí đến với kho tri thức đó, trong khi phần còn lại của thế giới thì không. Các bạn không nên, hay một cách có đạo đức hơn, không có quyền được hưởng đặc lợi này. Các bạn có trách nhiệm phải chia sẻ nó với thế giới: chia sẻ quyền truy cập hay download giúp bạn bè của mình.

Trong khi đó, những người còn lại cũng không thể chỉ trông chờ những người từ bên trong, bạn phải tìm cách vượt rào, giải phóng thông tin đang bị nắm giữ cho mọi người. Những hành động này đều diễn ra một cách thầm lặng và có thể bị coi là ăn cắp. Nhưng chia sẻ sự giàu có về tri thức không hề vô đạo đức, nó khác với việc cướp bóc một con tàu và giết thủy thủ đoàn. Ngược lại, sự chia sẻ này lại là một mệnh lệnh của lương tâm. Chỉ có những người tối mắt vì lòng tham mới từ chối chia sẻ một bản sao thông tin cho bạn của mình.

Các tập đoàn lớn, hiển nhiên là đã bị lòng tham làm cho mờ mắt. Cách vận hành của họ nhằm đảm bảo cho điều đó, các cổ đông sẽ làm loạn nếu lợi nhuận suy giảm. Và các chính trị gia đã được họ mua chuộc, thông qua những điều luật để đưa cho họ thêm quyền lực để kiểm soát tri thức.

Chẳng có chút công lý nào trong những điều luật vô lý đó. Và đã đến thời điểm chúng ta cần đứng dậy và đấu tranh chống lại sự hút máu phi lý của các tập đoàn, hướng đến một xã hội văn minh hơn.

Chúng ta cần tận dụng cơ hội để nắm bắt lấy những thông tin quan trọng, bất kể nơi chúng được lưu trữ, và chia sẻ chúng cho mọi người; bao gồm các thông tin hết hạn bản quyển. Chúng ta cũng cần bỏ tiền để sở hữu những thông tin mật, những tài liệu khoa học và đưa chúng lên các mạng chia sẻ. Chúng ta cần đấu tranh cho Guerilla Open Access.

Khi đã tập hợp được số lượng đủ lớn thành viên, trải rộng khắp nơi trên thế giới, chúng ta không chỉ gửi một thông điệp có sức nặng đến với các thế lực muốn kiểm soát tri thức, mà chúng ta sẽ có thể khiến điều đó trở thành dĩ vãng. Bạn sẽ tham gia cùng chúng tôi chứ?

July 2008, Eremo, Italy

Scridb filter

]]>
http://phiatruoc.info/tuyen-ngon-tu-do-truy-cap-thong-tin/feed/ 5
Sự đa dạng của chủ nghĩa nữ quyền và những đóng góp vào sự bình đẳng giới http://phiatruoc.info/su-da-dang-cua-chu-nghia-nu-quyen-va-nhung-dong-gop-vao-su-binh-dang-gioi/ http://phiatruoc.info/su-da-dang-cua-chu-nghia-nu-quyen-va-nhung-dong-gop-vao-su-binh-dang-gioi/#comments Mon, 27 May 2013 19:35:36 +0000 tapchiphiatruoc http://phiatruoc.info/?p=11122 Judith Lorber
Hồ Liễu dịch, Gió-O

Judith Lorber, sinh năm 1931, là giáo sư hưu giảng các môn Xã hội học và Phụ nữ học tại Trung tâm Tốt nghiệp thuộc Đại học Thành phố New York và Học viện Brooklyn. Bà là nhà lí thuyết nền tảng của kiến thiết xã hội về giới tính và đóng một vai trò then chốt trong việc tạo dựng và chuyển hoá ngành giới tính học. Gần đây bà lên tiếng kêu gọi việc phải phân định thế giới xã hội. Kể từ đầu thập niên 1970 bà đã tích cực hoạt động trong Hiệp hội những nhà Khoa học Xã hội vì Phụ nữ trong xã hội. Bà khai triển và dạy một số những giảng khoá đầu tiên về xã hội học giới tính, phụ nữ học, và lí thuyết nữ quyền tại những trường kể trên nơi bà đã là Điếu hợp viên đầu tiên về Chương trình chứng nhận về Phụ nữ học từ 1988 đến 1991. Năm 1992 – 1993 bà là Chủ tịch phân bộ Tính dục và Giới tính của Hiệp hội Hoa Kì về Tiêu chuẩn và được Tặng thưởng Jessie Bernard năm 1996 “cho công cuộc hàn lâm của bà đã mở rộng những chân trời của xã hội học để bao gồm trọn vẹn vai trò của phụ nữ trong xã hội”.

°°°

gender-inequality-feminist-theories-politics-judith-lorber-paperback-cover-artChủ nghĩa nữ quyền là một phong trào xã hội mà mục đích căn bản là sự bình đẳng giữa đàn bà và đàn ông. Ở nhiều thời và nhiều nơi trong quá khứ, người ta từng kiên quyết rằng đàn bà và đàn ông có những khả năng tương tự nhau và đã cố gắng cải thiện địa vị xã hội của tất cả đàn bà, cũng như các địa vị của những đàn ông. Tuy nhiên, như một phong trào có tổ chức, nữ quyền trỗi dậy trong thế kỉ mười chín ở châu Âu và châu Mĩ để đáp ứng những bất bình đẳng lớn lao giữa những vị thế pháp lí của những công dân nữ và nam ở những xứ sở phương Tây đã công nghệ hoá.

Lược sử về chủ nghĩa nữ quyền có tổ chức

Những nhà nữ quyền thuộc đợt sóng thứ nhất của thế kỉ mười chín và đầu thế kỉ hai mươi đã chiến đấu cho những quyền mà ngày nay chúng ta coi là đương nhiên. Thật khó để tin rằng những quyền này đã nằm trong số những quyền từng bị từ khước cho đàn bà thuộc mọi giai cấp xã hội, phạm trù chủng tộc, sắc tộc, và tông giáo – các quyền bỏ phiếu (đầu phiếu), sở hữu tài sản và tư bản, thừa kế, giữ tiền kiếm được, đi học cao đẳng, trở thành một y sĩ chuyên nghiệp được chứng nhận, tranh cãi những vụ án tại toà, và phục vụ trong bồi thẩm đoàn.

Lí thuyết về sự bình đẳng mà những nhà nữ quyền của thế kỉ mười chín đã sử dụng trong cuộc tranh đấu của họ cho những quyền của đàn bà đã xuất phát từ triết học chính trị tự do, vốn cho rằng tất cả đàn ông phải bình đẳng trước luật pháp, rằng không ai nên có những đặc quyền hoặc những quyền đặc biệt. Dĩ nhiên, khi Hoa Kì của châu Mĩ được thành lập, quan niệm về sự bình đẳng đó loại trừ những đàn ông trong vòng nô lệ và những đầy tớ nam theo khế ước, bởi vì họ không phải là những công dân tự do, cũng như tất cả đàn bà, bất kể vị thế xã hội của họ ra sao, bởi vì họ cũng không tự do thực sự. Vị thế pháp lí của họ giống như vị thế pháp lí của trẻ em – lệ thuộc kinh tế và vay mượn vị thế xã hội từ cha hoặc chồng. Trong vở kịch nổi tiếng Ngôi nhà búp bê (A Doll’s House) của Ibsen, Nora nguỵ tạo chữ kí của người cha quá cố vì cô không thể kí một cách pháp lí tên riêng của mình cho khoản vay cô cần để cứu mạng người chồng đau ốm.

Mục đích của nữ quyền đợt sóng thứ nhất là đạt được quyền bình đẳng về pháp lí cho đàn bà, đặc biệt quyền bỏ phiếu, hay đầu phiếu. (Những nhà nữ quyền thường được gọi là những người tranh đấu đầu phiếu/ suffragists). Ở Hoa Kì, đàn bà không được quyền bỏ phiếu mãi tới năm 1919. Nhiều quốc gia ở châu Âu cũng chỉ cho đàn bà quyền bỏ phiếu sau Thế chiến I, để đền đáp cho những nỗ lực của họ trong chiến tranh. Tuy nhiên, đàn bà Pháp không được quyền đầu phiếu mãi tới sau Thế chiến II, khi tướng Charles de Gaulle biết ơn đã cho họ quyền bỏ phiếu vì công sức của họ trong cuộc chiến đấu ngầm chống lại Quốc xã và chính phủ hợp tác của nước Pháp bị chiếm đóng.

Cách mạng Nga trong đầu thế kỉ hai mươi [1917] đã cho đàn bà những quyền bình đẳng, mặc dù những người Bolshevik phê phán chủ nghĩa cá nhân của “nữ quyền tư sản”. Họ nhấn mạnh về công cuộc trong kinh tế tập thể, với việc chăm sóc bà mẹ trước khi sanh và việc chăm sóc trẻ em được nhà nước cung cấp để cho đàn bà có thể vừa làm công nhân vừa làm mẹ.

Quyền đầu phiếu là mục đích chính của sự giải phóng đàn bà trong đợt sóng thứ nhất của nữ quyền ở những xứ sở phương Tây, nhưng những quyền liên quan tới tài sản, thu nhập, giáo dục cao đẳng – tới cuối thế kỉ mười chín, nhiều quyền trong số đó đã được trao – cho đàn bà một cơ may độc lập kinh tế. Những quyền này thiết yếu cho việc nâng cao vị thế của đàn bà đã kết hôn khỏi sự lệ thuộc giống như trẻ con vào ông chồng, và cho những quả phụ và phụ nữ độc thân cách sống tự lực nào đó thay vì như một người bà con nghèo nàn trong căn hộ của cha hoặc anh em hoặc con trai họ. Đàn bà được giải phóng trong nửa đầu thế kỉ hai mươi bao gồm những cô gái đi làm ở xưởng máy độc lập đã làm việc cả ngày và đi khiêu vũ ban đêm, và đàn bà có học thuộc tầng lớp trung lưu và thượng lưu đã có “những hôn nhân kiểu Boston” (là những đồng cư cả đời nhưng không làm hôn thú).

Có một nhánh khác của nữ quyền thế kỉ mười chín không tập trung vào những quyền bình đẳng mà vào quyền “sở hữu” thân thể của một đàn bà và quyền đặt kế hoạch cho những lần thai nghén của chị. Cuộc tranh đấu của những nhà nữ quyền thế kỉ hai mươi cũng gay go tranh đấu trong những xứ sở phương Tây như  cuộc tranh đấu cho quyền đầu phiếu, cho những phương tiện hợp pháp để ngừa thai mà đàn bà có thể kiểm soát. Đàn bà không thể tự do để làm mẹ và vợ tốt, đặc biệt là khi họ nghèo, khi họ có đứa con này đến đứa con khác. Nhưng những bác sĩ bị cấm đặt cho đàn bà màng tránh thai hoặc mũ ở xương chậu (những thứ đi trước của vòng tránh thai và thuốc ngừa thai [tới những năm 1960 mới có]). Ở Hoa Kì, thậm chí gửi thông tin về những hiểu biết này qua đường ranh tiểu bang là bất hợp pháp. Việc đàn bà đã kết hôn sử dụng phổ biến biện pháp ngừa thai đã gây lo sợ cho những người theo truyền thống, vì họ thấy trong đó sự suy sụp của gia đình. Những nhà nữ quyền lo sợ rằng đàn ông sẽ khai thác tính dục những người đàn bà không kết hôn nếu họ được bảo vệ không mang thai. Còn đối với chính đàn bà, hậu quả tích cực của trận chiến dài lâu này cho việc tránh thai do đàn bà kiểm soát được hợp pháp hoá đã là sự tự do tính dục lớn hơn trước hôn nhân và việc làm cha mẹ có kế hoạch sau hôn nhân.

Như hiển nhiên ta thấy qua việc nhìn bao quát ngắn gọn này, phong trào nữ quyền đợt sóng thứ nhất có nhiều dị biệt về lí thuyết và chính trị với phong trào nữ quyền kế tục nó. Câu hỏi về những dị biệt giữa đàn ông với đàn bà, và vậy là họ có nên được đối xử bình đẳng (equally) vì họ là sự giống nhau hoặc công bằng (equitably) một cách thiết yếu vì họ dị biệt một cách thiết yếu, hiện vẫn còn được tranh luận. Câu hỏi về nơi nào chính trị nữ quyền nên đặt sự nỗ lực nhất – bầu khí quyển công cộng (công việc và chính phủ) hoặc bầu khí quyển riêng tư (gia đình và tính dục) – vẫn còn đặt ra với chúng ta.

Đợt sóng thứ hai của nữ quyền

Phong trào nữ quyền hiện hành được gọi là đợt sóng thứ hai. Là một phong trào hậu Thế chiến II, nó bắt đầu với sự xuất bản ở Pháp trong năm 1949 cuốn Giới tính thứ hai (Le deuxième sexe/ The Second Sex) của Simone de Beauvoir. Kết toán bao trùm này về vị thế lịch sử và hiện hành của đàn bà trong Thế giới phương Tây lập luận rằng đàn ông thiết lập những tiêu chuẩn và giá trị và rằng đàn bà là Kẻ Khác (Tha Nhân/ the Other), là những người thiếu những phẩm chất mà những kẻ thống trị phô bày. Đàn ông là những kẻ hành động, đàn bà là những kẻ phản ứng. Vì vậy đàn ông là giới tính thứ nhất, đàn bà luôn là giới tính thứ hai. De Beauvoir kiên quyết rằng sự thống trị của đàn ông và sự tuân phục của đàn bà không phải là một hiện tượng sinh học mà là sự sáng tạo của xã hội:

“Người ta không sinh ra làm đàn bà mà đúng hơn trở thành đàn bà…; chính toàn thể nền văn minh đã sản sinh ra tạo vật này… cái được mô tả như nữ tính”. (theo bản Anh ngữ năm 1953, trang 267)

["One is not born, but rather becomes, a woman...; it is civilization as a whole that produces this creature... which is described as feminine". (1953, 267)]

Mặc dù cuốn Giới tính thứ hai được đọc một cách rộng rãi, đợt sóng nữ quyền thứ hai không thành hình như một phong trào chính trị có tổ chức mãi cho đến thập niên 1960, khi những người trẻ tuổi công khai phê phán nhiều phương diện của xã hội phương Tây. Trong những năm từ đó, chủ nghĩa nữ quyền đã đóng góp nhiều vào sự thay đổi xã hội bằng cách tập trung chú ý vào những cách tiếp tục trong đó đàn bà vẫn bị thất thế về mặt xã hội hơn là đàn ông, bằng cách phân tích những áp chế tính dục mà đàn bà phải gánh chịu, và bằng cách đề nghị những giải pháp liên cá nhân cũng như về chính trị và pháp lí. Tuy nhiên, quan điểm nữ quyền về điều khiến đàn bà và đàn ông bất bình đẳng ngày nay ít thống nhất so với trong nữ quyền đợt sóng thứ nhất, và có vô vàn giải pháp nữ quyền cho bất bình đẳng giới. Nếu những tiếng nói nữ quyền dường như mang tính phần mảnh nhiều hơn ở thế kỉ mười chín, nó là kết quả của một sự hiểu biết sâu hơn về nguồn gốc của bất bình đẳng giới. Nó cũng là hiệu ứng mâu thuẫn của sự thành công không đều. Những nhà nữ quyền ngày nay là thành viên của các tập đoàn, giới đại học, hoặc chính phủ, là những luật sư hoặc bác sĩ hoặc nghệ sĩ và giới cầm bút được tôn kính, nhận thức tốt về những hạn chế do những địa vị của họ, vốn có những trần nhà bằng kiếng (glass ceilings) và sự quấy rối tính dục. Nhưng quan điểm của họ thì khác với quan điểm của những phê bình nữ quyền chống cơ chế cấp tiến hơn, là những người tố giác sự áp chế tính dục được định chế hoá và sự hạ giá bao trùm về đàn bà.

Mặc dù phần lớn phong trào nữ quyền của thế kỉ hai mươi đã xảy ra trong những xứ sở công nghiệp hoá, nhưng vẫn có những cuộc tranh đấu thiết yếu và quan trọng về tài nguyên cho những cô gái và đàn bà ở những xứ sở châu Phi và Nam và Trung Mĩ. Khi những xứ sở ở châu Phi, châu Á, và Trung và Nam Mĩ thoát ra khỏi sự kiềm chế thực dân sau Thế chiến II và thiết lập những chính phủ độc lập, họ, cũng, cho những công dân đàn bà của mình quyền bỏ phiếu. Nhờ các phong trào đàn bà mạnh mẽ, nhiều trong những quốc gia mới đã viết ra sự bình quyền cho đàn bà vào trong những hiến pháp của họ, và một số nơi thậm chí còn đặt định sự đại diện chính trị có bảo đảm. Rwanda, một nền dân chủ mới, trong năm 2004 có 48,8% đàn bà trong hạ viện và 30% trong thượng viện. Tương phản lại, Hoa kì có 60 người đàn bà (14,5%) trong Viện Dân biểu và 14 người đàn bà (trong số 100 người) trong Thượng nghị viện.

Ở mút kia của cán cân chính trị, trong những xứ sở Hồi giáo, đàn bà tới nay vẫn không thể bỏ phiếu, vẫn không được rời bỏ xứ sở nếu không có sự cho phép của chồng, hoặc không được lái xe hơi. Ở Trung Đông, đàn bà và đàn ông đã tranh đấu để hoà giải những quyền của đàn bà với những giáo luật truyền thống của Hồi giáo và Do thái giáo. Ở châu Á, những vấn đề nghèo khó và quá đông dân, mặc dù chúng tác động hơn một cách trái ngược lên đàn bà và những cô gái, cần những phương thuốc chữa trị tác động lên mọi người. Những phong trào chính trị của đàn bà trong những xứ sở này hẳn không được gọi là “mang tính nữ quyền”, tuy vậy chúng vẫn dựa trên cơ sở giới tính.

Xa hơn dòng chủ lưu là những chủ nghĩa nữ quyền thách thức “điều mọi người đều biết” về tính dục (sex), dục tính (sexuality), và giới tính (gender) – sự song hành và đối nghịch của nữ và nam, đồng tính và dị tính, đàn bà và đàn ông. Chúng lập luận rằng có rất nhiều tính dục, dục tính và giới tính, và nhiều cách để biểu lộ nam tính và nữ tính. Một số trong những lí thuyết nữ quyền này bây giờ đang được gọi là đợt sóng thứ ba của nữ quyền. Nếu những ý tưởng này dường như xa lắc hoặc lạ lẫm, hãy nhớ rằng vào lúc khởi đầu của đợt sóng thứ hai, khi những nhà nữ quyền sử dụng “anh hoặc chị” (he or she) cho từ “anh” chủng loại (the generic “he”), “Ms.” (cô hoặc bà) thay thế cho “Miss” (Cô) hoặc “Mrs.” (Bà), và “những người làm việc toàn thời gian ở nhà” thay cho “nội trợ”, họ bị gọi là những kẻ gây rối. Thay đổi xã hội sẽ không diễn ra nếu không có sự chạm trán, và điều quan trọng là biết điều những nhà nữ quyền đang lên tiếng mà không được nghe thấy trong những phương tiện truyền thông đại chúng họ đang nói về bất bình đẳng giới và nó có thể bị bài trừ như thế nào.

Bất bình đẳng giới

Mục đích của nữ quyền như một phong trào chính trị là làm cho đàn bà và đàn ông bình đẳng hơn về pháp lí, xã hội và văn hoá. Bất bình đẳng giới mang nhiều dạng thức khác nhau, tuỳ theo cấu trúc kinh tế và sự tổ chức xã hội của một xã hội đặc thù và tuỳ theo văn hoá của bất cứ nhóm đặc thù nào bên trong xã hội đó. Mặc dù chúng ta nói về bất bình đẳng giới, nhưng thường là đàn bà, bị kém thế so với đàn ông ở tình thế tương tự vậy.

Đàn bà thường nhận được tiền lương thấp hơn cho công việc giống vậy hoặc tương đương, và họ thường xuyên bị ngăn chặn trong những cơ may thăng tiến, đặc biệt là tới những địa vị cao nhất. Thường có một sự thiếu cân bằng trong số lượng việc nội trợ và chăm sóc trẻ mà một người vợ làm so với chồng mình, thậm chí khi cả hai cùng sử dụng lượng thời gian lớn bằng nhau trong công việc được trả tiền bên ngoài tổ ấm. Khi những người chuyên nghiệp đàn bà đối chọi với đàn ông cùng hiệu suất có thể so sánh được, đàn ông vẫn được thừa nhận lớn lao hơn cho công việc của họ và leo thang nghề nghiệp mau hơn. Trên một nền tảng tổng thể, bất bình đẳng giới có nghĩa rằng công việc thường được đàn bà làm nhất, như là dạy con trẻ và nuôi dưỡng chúng, được trả lương ít hơn các công việc đàn ông thường làm nhất, như là xây dựng và khai mỏ.

Bất bình đẳng giới có thể cũng mang dạng thức là những cô gái được sự giáo dục ít hơn các chàng trai thuộc cùng tầng lớp xã hội. Gần hai phần ba người mù chữ của thế giới là đàn bà, nhưng ở những xã hội phương Tây, khoảng cách giới tính trong việc giáo dục đang khép gần ở tất cả bậc học. Trong nhiều xứ sở, đàn ông được ưu tiên hơn đàn bà trong việc phân phối những dịch vụ chăm sóc sức khoẻ. Việc sử dụng biện pháp ngừa thai lên cao trong những xứ sở công nghiệp, nhưng trong những xứ sở đang phát triển, rắc rối trong việc sinh con vẫn là một nguyên nhân hàng đầu của cái chết cho những phụ nữ trẻ. Bệnh AIDS thậm chí còn làm tử vong đàn bà kinh khủng hơn so với đàn ông trên toàn cầu, vì nguy cơ của đàn bà về việc lây nhiễm với HIV trong tính dục không được bảo vệ thì cao hơn từ hai tới bốn lần so với đàn ông. Trong tháng Năm năm 2004, Tổ chức Y tế Thế giới của Liên hiệp quốc (World Health Organization, viết tắt là WHO) đã báo cáo rằng cho đến cuối năm 2003 khoảng bốn mươi triệu người đang sống với HIV/ AIDS, và trong đó hơn một nửa là đàn bà. Chính trị tính dục ảnh hưởng việc lan truyền của HIV/ AIDS. Nhiều phụ nữ mắc HIV/ AIDS bị lây bệnh qua sự khai thác tính dục, hoặc qua những người chồng có lắm bạn chơi tính dục nhưng lại từ chối sử dụng bao cao su.

Sự khai thác và bạo hành tính dục đối với đàn bà cũng là một phần của bất bình đẳng giới trong nhiều cung cách khác. Trong chiến tranh và các cuộc khởi nghĩa dân tộc, đàn bà thuộc một nhóm chủng tộc sắc tộc thường bị đàn ông của nhóm chủng tộc sắc tộc đối lập cưỡng hiếp như một vũ khí chủ ý của việc làm xấu hổ và làm nhục. Trong nhà, đàn nhà dễ bị đánh đập, cưỡng hiếp, và giết chết – thường bởi chồng hoặc bạn trai họ, và đặc biệt là khi họ cố rời bỏ một mối quan hệ bị lạm dụng. Thân thể của các cô gái và đàn bà bị sử dụng trong công việc tính dục – dâm thư và mại dâm. Họ bị phô bày trong phim ảnh, truyền hình, và quảng cáo trong những văn hoá phương Tây. Trong một số văn hoá châu Phi và Trung Đông những bộ phận sinh dục của họ bị cắt xẻo theo nghi lễ và thân thể họ bị phủ kín từ đầu tới ngón chân nhân danh sự trinh khiết. Họ có thể bị cưỡng bức để sinh con mà họ không muốn hoặc phải phá thai hoặc bị triệt sản ngược với ý chí của họ. Trong một số xứ sở có nạn nhân mãn, những bé gái sơ sinh thì thường bị bỏ rơi trong các cô nhi viện nhiều hơn so với các bé trai sơ sinh. Trong những xứ sở khác, nếu giới tính của bào thai có thể được xác định, hễ bé gái là bị nạo phá.

Bất bình đẳng giới cũng có thể bất lợi cho đàn ông. Trong nhiều xứ sở, chỉ đàn ông là phục vụ trong lực lượng quân đội, và trong hầu hết những xứ sở chỉ đàn ông bị gửi vào trong những cuộc giao tranh trực tiếp. Hầu hết là đàn ông làm công việc nguy hiểm hơn, như là cứu hoả và cảnh sát. Mặc dầu đàn bà đã từng tham chiến trong chiến tranh và đang gia nhập vào những lực lượng cảnh sát và những sở cứu hoả, những sự sắp xếp giới tính của hầu hết các xã hội đều cho rằng đàn bà sẽ làm công việc về sinh đẻ và chăm sóc con trẻ trong khi đàn ông sẽ làm công việc bảo vệ và hỗ trợ họ về mặt kinh tế.

Sự phân công lao động theo giới tính này được bắt rễ trong sự sống còn của những nhóm nhỏ sống ở mức độ tự túc, nơi những em bé được cho bú và thức ăn cho những đứa trẻ lớn hơn và người lớn đạt được bằng hái lượm và săn bắt. Những người chăm sóc trẻ (hầu hết là đàn bà) thu lượm trái cây và rau cỏ và săn bắt những con thú nhỏ, trong khi em bé được địu theo và những đứa con lớn hơn là người phụ giúp. Những kẻ không chăm sóc con trẻ (hầu hết là đàn ông, nhưng cũng có cả đàn bà chưa kết hôn) có thể đi xa trong việc đuổi theo những con thú lớn – là công việc nguy hiểm hơn. Kẻ săn bắt trở về với thịt và da thú thì rất được tán thưởng, nhưng nếu cuộc săn không thành công, họ vẫn có cái gì đó để ăn khi họ trở về mái lều, nhờ vào sự hái lượm đáng trông cậy hơn của những kẻ chăm sóc trẻ.

Hầu hết đàn bà trong những xứ sở công nghiệp và hậu công nghiệp không trải đời mình để sanh đẻ và chăm sóc con cái, và hầu hết đàn bà trên toàn thế giới làm những công việc được trả lương và không được trả lương để cung cấp thực phẩm, quần áo, và nơi trú ẩn cho gia đình họ, thậm chí ngay cả khi họ đang chăm sóc con trẻ. Những dạng thức hiện đại của bất bình đẳng giới không phải là một sự trao đổi bổ túc về những trách nhiệm nhưng là một hệ thống tinh vi, trong đó như bản báo cáo của Liên hiệp Quốc trong năm 1980 ước tính rằng, đàn bà làm hai phần ba công việc của thế giới, nhận 10% thu nhập của thế giới, và sở hữu 1% tài sản của thế giới. Khoảng cách giới tính trong công việc được trả lương đang được thu hẹp dần, nhưng đàn bà vẫn làm hầu hết công việc trong nhà và chăm sóc trẻ, và cùng lúc làm lao động nông nghiệp, điều hành kinh doanh nhỏ, và làm số lớn công việc được trả lương đặt cơ sở tại nhà, tất cả những việc đó đều là lao động lương thấp.

Những thiết chế chủ yếu về xã hội và văn hoá đều chống đỡ cho hệ thống về bất bình đẳng giới này. Những tông giáo hợp thức hoá những sự sắp xếp xã hội sản sinh ra sự bất bình đẳng, biện minh rằng chúng là đúng và phải lẽ. Luật pháp chống đỡ tình trạng hiện hành và cũng thường khiến không thể chấn chỉnh những hậu quả – truy tố những ông chồng vì đánh đập vợ, hoặc bạn trai vì cưỡng hiếp bạn gái mình. Trong các ngành nghệ thuật, những sản phẩm của đàn bà thì quá thường bị làm ngơ đến nỗi chúng gần như vô hình, điều này dẫn tới việc Virginia Woolf kết luận rằng Vô danh thị (Anonymous) hẳn phải là một phụ nữ. Những khoa học bị kết tội là đặt những câu hỏi thiên vị và làm ngơ những điều tìm thấy mà không hỗ trợ những niềm tin theo quy ước về những khác biệt giới tính.

Ngoại trừ những xứ sở Bắc Âu, vốn có sự tham gia của đàn bà trong chính phủ lớn nhất và những luật lệ và những chính sách nhà nước bình đẳng giới nhất, hầu hết những chính phủ đều do đàn ông thống trị xã hội điều hành, và chính sách của họ phản ánh những quyền lợi của chính họ. Trong mọi giai đoạn thay đổi, bao gồm những giai đoạn chuyển biến cách mạng, những quyền lợi của đàn ông, chứ không phải của đàn bà, đã thắng thế, và nhiều đàn ông, nhưng ít đàn bà, đã được hưởng lợi từ những chính sách xã hội tiến bộ. Bình đẳng và công lí cho tất cả thường chỉ có nghĩa cho đàn ông. Đàn bà chưa bao giờ có cuộc cách mạng của họ vì cấu trúc giới tính như một thiết chế xã hội chẳng bao giờ bị thách thức một cách nghiêm túc. Vì vậy, tất cả đàn ông đều hưởng lợi từ “cổ tức chế độ phụ quyền” – công việc không được trả lương của đàn bà trong sự duy trì tổ ấm và nuôi dưỡng con cái; công việc được trả lương thấp của đàn bà phục vụ những bệnh viện, trường học, và vô vàn những chốn làm việc khác; và sự vun bồi và chăm sóc cảm xúc của đàn bà.

Điểm chính mà những chủ nghĩa nữ quyền gần đây từng nhấn mạnh về bất bình đẳng giới là rằng nó không phải là vấn đề cá nhân, nhưng bị ăn sâu vào cấu trúc của những xã hội. Bất bình đẳng giới được xây dựng thành tổ chức về hôn nhân và gia đình, công việc và kinh tế, chính trị, những tông giáo, những nghệ thuật, và những sản phẩm văn hoá khác và chính ngôn ngữ chúng ta nói. Vì vậy, làm cho đàn bà và đàn ông bình đẳng cần thiết những giải pháp xã hội chứ không phải cá nhân. Những giải pháp đã được đặt khung thành chính trị nữ quyền. Chúng hiện xuất từ những lí thuyết nữ quyền về cái sản sinh bất bình đẳng giới.

Những lí thuyết nữ quyền

Bức chân dung phía trên về một thế giới bất bình đẳng giới là một tổng kết về công việc của những thế hệ những nhà nghiên cứu và các học giả nữ quyền. Những lí thuyết nữ quyền được khai triển để giải thích những lí do cho sự bất bình đẳng giới bao trùm này. Những nhà nữ quyền không hài lòng với sự giải thích rằng điều đó là tự nhiên, Chúa đã ban cho, hoặc cần thiết vì đàn bà mang thai và sinh con còn đàn ông thì không. Với sự khai phá sâu hơn vào trong sự bao trùm của bất bình đẳng giới, những nhà nữ quyền đã sản sinh những quan điểm đa phức hơn về giới tính, tính dục, và dục tính. Mặc dầu có sự trùm lấp đáng kể giữa các từ này, vẫn là hữu ích khi ta tách biệt những khái niệm về giới tính, tính dục, và dục tính để minh hoạ sự phân định giới tính đã biến cải thân thể và hành vi tính dục như thế nào. Bài này sử dụng những định nghĩa và từ vựng sau đây:

Giới tính (Gender): một vị thế xã hội, một chỉ danh pháp lí, và một căn cước nhân thân. Qua những tiến trình xã hội của sự phân định giới tính, những sự phân chia giới tính và những quy củ đi kèm của chúng và những mong đợi về vai trò gắn liền trong những thiết chế xã hội chính yếu của xã hội, như là kinh tế, gia đình, nhà nước, văn hoá, tông giáo, và luật pháp – trật tự xã hội theo giới tính. Những từ đàn bà (woman)đàn ông (man) được sử dụng khi quy chiếu về giới tính.

Tính dục (Sex): một sự giao thoa đa phức của những chủng tử, môi trường, và hành vi, với những hiệu quả hồi dưỡng giữa những thân thể và xã hội. Những từ nam (male), nữ (female),trung tính (intersex) được sử dụng khi quy chiếu về tính dục.

Dục tính (Sexuality): dục vọng tham luyến, dính líu cảm xúc, và giả tưởng, như đã diễn ra trong một sự đa dạng của những quan hệ thân thiết dài hạn và ngắn hạn. Những từ đồng tính (homosexuality), dị tính (heterosexuality)lưỡng tính (bisexuality) được sử dụng khi quy chiếu về dục tính.

Những lí thuyết nữ quyền gần đây đã phân tích sự giao thoa đa phức của tính dục, dục tính, và giới tính. Những lí thuyết này nói về những giới tính, những tính dục, và những dục tính. Những cặp “đối lập” trong mỗi trường hợp – đàn bà và đàn ông, nữ và nam, đồng tính và dị tính – đã trở thành đa phương. Vì nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng sinh lí học nữ và nam đã được sản sinh và duy trì do cả hai nội tiết nữ và nam, những lí thuyết mới biện luận rằng tính dục nhiều phần là một trường liên tục hơn một sự phân li bén nhọn. Tương tự như thế, những nghiên cứu về định hướng tính dục đã chỉ ra rằng cả đồng tính và dị tính đều không phải luôn luôn cố định suốt đời, và rằng lưỡng tính, trong những cảm xúc và trong những quan hệ tính dục, là phổ biến.

Hiện tượng chuyển giới tính (transgendering) làm phức tạp hơn sự giao thoa của tính dục, dục tính, và giới tính. Chuyển giới tính bao gồm chuyển y phục (transvestism) – sống trong một giới tính khác với giới tính được chỉ định lúc sinh ra nhưng không biến cải thân thể bằng giải phẫu – và chuyển dục tính (transsexuality) – chuyển hoá thân thể bằng giải phẫu và nội tiết để thay đổi giới tính. Mục đích của nhiều người chuyển giới là “thông qua” như một người có giới tính “bình thường”, một mục đích cần thiết để giải quyết những vấn đề của đời sống hàng ngày, nhưng không phải mục đích xáo trộn trật tự xã hội theo giới tính. Những người bẻ giới tính triệt để đôi khi tự nhận là “những người bóng” (queers), không tuyên xưng căn cước là đàn ông hay đàn bà, dị tính hay đồng tính. Những người bóng công khai lật nhào giới tính nhị phân và những phạm trù tính dục thông qua những hoà trộn cố tình của họ về quần áo, trang điểm, trang sức, kiểu tóc, hành vi, tên gọi, và việc sử dụng ngôn ngữ. Bằng cách không kiến thiết giới tính và dục tính trong những cung cách được mong đợi, họ làm hiển hiện, theo từ ngữ của Judith Butler, tính trình diễn (performativity) theo đó toàn bộ trật tự giới tính tuỳ thuộc. Họ giễu nhại và giỡn chơi với giới tính, xé rào những quy củ, những trông mong, và hành vi giới tính.

Nhiều nhà khoa học xã hội nữ quyền bây giờ thích nói về những giới tính hơn, vì những vị thế xã hội của đàn ông và đàn bà, những căn cước nhân nhân, và những cơ may của đời sống bị cột chặt một cách rắc rối vào những nhóm chủng tộc, sắc tộc, và tông giáo, giai cấp xã hội, nền tảng gia đình, và nơi cư trú của họ. Tuy thế, những nhóm người khác nhau rất xa này phải phù hợp vào hai và chỉ hai giới tính được thừa nhận về mặt xã hội trong những xã hội phương Tây – “đàn ông” và “đàn bà”. Những thành viên của hai phạm trù vị thế chính yếu này được giả thiết là khác nhau, và những thành viên của cùng phạm trù được giả thiết là có những tương tự thiết yếu. Công việc và những vai trò gia đình, cũng gần như mọi khía cạnh khác của đời sống xã hội đều được xây dựng trên hai sự phân chia chính yếu về con người. Sự phân định giới tính này sản sinh ra trật tự xã hội theo giới tính (gendered social order). Bất bình đẳng giới cũng được xây dựng vào trong cấu trúc của trật tự xã hội theo giới tính vì hai vị thế – đàn bà và đàn ông – được đối đãi khác nhau và có những cơ may đời sống khác nhau một cách ý nghĩa. Những tiến trình xã hội này đã xảy ra và tiếp tục hoạt động như thế nào và tại sao còn là chủ đề của những lí thuyết nữ quyền. Ta phải làm gì với chúng là mục tiêu của chính trị nữ quyền.

Chính trị nữ quyền

Chính trị nữ quyền không chỉ quy chiếu về đấu trường của chính phủ hoặc luật pháp; nó có thể là những sự phản đối chạm trán, như là những cuộc biểu tình mang tên là Đòi lại Đêm (Take Back the Night), hoặc làm việc thông qua những tổ chức với một nền tảng rộng lớn, như là Tổ chức Toàn quốc về Phụ nữ (National Organization of Women/ viết tắt là NOW) và Tổ chức Toàn quốc cho Đàn ông chống kì thị với phụ nữ (National Organization for Men against Sexism/ viết tắt là NOMAS). Nó có thể là những trung tâm dịch vụ, như là nơi tạm trú của những đàn bà bị đánh đập, và những hoạt động phục vụ, như là những buổi nói chuyện về tính nhạy cảm giới tính và chống cưỡng bức cho nam sinh viên.

Hoạt động xã hội nữ quyền trong lối xóm hoặc ở cơ sở có khuynh hướng tập trung vào đàn bà và quan tâm tới những vấn đề địa phương, trong khi những tổ chức chính phủ xuyên quốc gia (non-governmental organizations/ viết tắt là NGOs) và những cơ cấu và cơ quan điều hành quốc gia và quốc tế là những địa điểm cho hoạt động chính trị đặt cơ sở trên sự đa dạng. Một số nhà nữ quyền đã tuyệt vọng khi những phong trào của phụ nữ tan rã vì chính trị căn cước dựa trên chủng tộc, sắc tộc, tông giáo, và quốc gia. Quan điểm “những miền biên cương” cống hiến khả tính về những viễn kiến mới và chính trị mới dựa trên những kết đoàn và những liên minh toàn sắc tộc, xuyên chủng tộc, và chuyển giới.

Thay đổi những cách giới thiệu về ngôn ngữ và truyền thông để tháo gỡ những miệt thị về kì thị tính dục xem khinh đàn ông cũng như đàn bà đều là chính trị nữ quyền. Những cách chữa trị khác cho việc chấn chỉnh bất bình đẳng giới, như là sáng tạo văn hoá và tri thức từ một quan điểm của đàn bà, xem ra không có vẻ mang tính chính trị, nhưng đối với những nhà nữ quyền, chúng mang tính chính trị sâu sắc vì chủ đích của họ là thay đổi cung cách người ta nhìn vào thế giới.

Nữ quyền và trật tự xã hội theo giới tính

Thành tựu về lí thuyết chủ yếu của nữ quyền đợt sóng thứ hai đã làm hiển hiện cấu trúc, những sự thực hành, và những bất bình đẳng của trật tự xã hội theo giới tính. Nó đưa giới tính vượt qua những thuộc tính và căn cước cá nhân và chỉ ra rằng giới tính, giống như giai cấp xã hội và những phạm trù chủng tộc, bị áp đặt hơn là phát triển từ những cá nhân. Sự phân định giới tính phân chia cõi xã hội thành hai tập hợp người bổ túc cho nhau nhưng bất bình đăngt – là “đàn bà” và “đàn ông”. Sự lưỡng phân này ban cho một vị thế pháp lí, xã hội và nhân thân nó lấn lướt những khác biệt của cá nhân và đan bện với những vị thế xã hội chủ yếu khác – sự phân loại chủng tộc, phân nhóm sắc tộc, giai cấp kinh tế, tuổi tác, tông giáo, và định hướng tính dục. Mặc dù chúng ta diễn ra những quy củ và những mong đợi thuộc giới tính thường xuyên trong những tương tác với kẻ khác, sự thôi thúc của giới tính mang tính cấu trúc (structural) trong việc nó sắp đặt những tiến trình và những hành xử của những phân bộ chủ yếu trong một xã hội – công việc, gia đình, chính trị, luật pháp, giáo dục, y tế, quân đội, tông giáo, và văn hoá. Giới tính là một hệ thống về quyền lực trong đó nó ban đặc quyền cho một số nhóm người và gây thất thế cho những nhóm khác đồng bộ với những hệ thống quyền lực khác (những phạm trù chủng tộc, sắc tộc, giai cấp xã hội, và định hướng tính dục).

Giới tính hoặt động cùng lúc và tức thời để ban cho những cá nhân cái vị thế và những căn cước và để hình thành hành vi hàng ngày của họ, và cũng như một nhân tố tạo nghĩa trong những quan hệ mặt đối mặt và những hành xử trong tổ chức. Mỗi bình diện lại hỗ trợ và duy trì các bình diện khác, nhưng – và đây là khía cạnh then chốt của giới tính – những hiệu quả của giới tính tác động từ trên xuống. Những quy củ và những mong đợi theo giới tính định dạng cho những hành xử của người ta trong nơi làm việc, trong gia đình, đoàn thể và những quan hệ mật thiết, và trong việc tạo ra những căn cước và những sự tự thẩm định cá nhân. Sự đồng bộ giới tính của các dân tộc hỗ trợ cho những hành xử theo giới tính; sự đa phức và phản thường giới tính (deviance, còn dịch là biến thái) của các dân tộc thách thức nó.

Tuy nhiên, trật tự xã hội theo giới tính thì rất đề kháng với thách thức cá nhân. Quyền lực của nó mạnh mẽ đến nỗi mà người ta hành động trong những cung cách theo giới tính dựa trên địa vị của họ bên trong cấu trúc giới tính mà không suy tư hoặc chất vấn gì cả. Chúng ta “làm giới tính” và tham gia vào việc xây dựng của nó một khi chúng ta đã học cách an vị như một thành viên của một trật tự xã hội theo giới tính. Những hành xử theo giới tính của chúng ta xây dựng và duy trì trật tự xã hội theo giới tính. Những sự hành xử của chúng ta cũng thay đổi nó. Khi trật tự xã hội thay đổi, và khi chúng ta tham gia vào những định chế và những tổ chức xã hội khác nhau suốt đời, hành vi theo giới tính của chúng ta cũng thay đổi.

Về mặt chính trị, những loại chủ nghĩa nữ quyền chủ yếu đã đối đầu với trật tự xã hội theo giới tính một cách khác nhau.

  • Những chủ nghĩa nữ quyền cải cách giới tính/ Gender reform feminisms (tự do, chủ nghĩa Marx, xã hội chủ nghĩa, hậu thuộc địa) – muốn thanh lọc trật tự xã hội theo giới tính khởi những hành xử kì thị chống đàn bà.
  • Những chủ nghĩa nữ quyền đề kháng giới tính/ Gender resistance feminisms (triệt để, đồng tính nữ, phân tâm học, lập trường) – muốn những tiếng nói và viễn kiến của đàn bà tái định hình trật tự xã hội theo giới tính.
  • Những chủ nghĩa nữ quyền nổi dậy giới tính/ Gender rebellion feminisms (những nghiên cứu nữ quyền, đa văn hoá về đàn ông, lí thuyết kiến thiết xã hội, hậu hiện đại, đợt sóng thứ ba) – muốn tháo rời trật tự xã hội theo giới tính bằng cách nhân lên những giới tính hoặc loại bỏ chúng hoàn toàn.

Những sự kế tục trong chủ nghĩa nữ quyền đợt sóng thứ hai

Những chủ nghĩa nữ quyền cải cách giới tính đặt nền tảng về lí thuyết cho nữ quyền đợt sóng thứ hai bằng cách làm hiển hiện những hạ tầng cấu trúc về trật tự xã hội theo giới tính. Chính trị của họ về quân bình giới tính thì thực tiễn và có lẽ là đường lối tốt nhất để chấn chỉnh bất bình đẳng giới ở thời điểm hiện tại. Tranh đấu cho vị thế pháp lí bình đẳng và sự đại diện chính trị cho đàn bà và đàn ông, và cho sự tự chủ cho đàn bà trong việc làm những chọn lựa về sinh sản, tính dục, và hôn nhân, vẫn chưa đạt được thắng lợi trong hầu hết những xứ sở trên thế giới. Sự cách biệt giới tính ở nơi làm việc và việc trả lương thấp cho công việc của đàn bà vẫn trùm khắp trong tất cả những loại kinh tế. Nền kinh tế toàn cầu bóc lột đàn bà và đàn ông nghèo khó như lao động rẻ tiền, và việc tái cấu trúc kinh tế trong những nền kinh tế công nghiệp hoá và hậu công nghiệp đã thu hẹp những tiện ích về dịch vụ xã hội đối với các bà mẹ và trẻ em. Những vấn đề kinh tế này là một đấu trường khác cho chính trị giới tính nữ quyền.

Mặc dù chính trị của những chủ nghĩa nữ quyền cải cách giới tràn lan vào chính trị cho mọi cá nhân kém thế, những trận chiến của những chủ nghĩa nữ quyền đề kháng giới tính là riêng cho đàn bà. Đấu tranh để bảo vệ thân thể đàn bà chống lại những lần mang thai và triệt sản ngoài ý muốn, những nạo phá thai nhi gái, cắt xẻo bộ phận sinh dục, cưỡng hiếp, đánh đập, và hạ sát đã là một cuộc tranh đấu khổng lồ và chẳng bao giờ kết thúc. Sự toàn vẹn tính dục của đàn bà và con gái cần sự bảo vệ khỏi việc bán dâm cưỡng bách, khỏi công việc tính dục bóc lột trong những sản phẩm dâm ô và hộp đêm, và những hôn nhân không tình yêu. Cả đàn bà và đàn ông đồng tính cần có thể sống thoát khỏi sự kì thị và những tấn công bạo lực, nhưng nhiều đồng tính nữ cũng muốn có không gian vật lí và những cộng đồng văn hoá riêng của mình, nơi đó họ có thể sống thoát khỏi sự quấy rối tính dục và sự thống trị của đàn ông, nuôi nấng những cuộc tình và tình bạn của họ, và sản sinh những cuốn sách, âm nhạc, hội hoạ, và kịch nghệ phản ánh những cung cách khác biệt của họ về suy nghĩ và cảm xúc. Những nhà nữ quyền Lập trường biện luận rằng những kinh nghiệm và tầm nhìn chuyên biệt về đời sống của đàn bà phải được bao gồm trong sản phẩm của tri thức, đặc biệt trong nghiên cứu khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Chỉ thêm những chủ đề phụ nữ vào những thiết kế về nghiên cứu là không đủ; những vấn đề phải được đặt ra câu hỏi từ một viễn kiến nữ quyền phê phán, dữ liệu phải bao gồm những tiếng nói của đàn bà, và việc phân tích phải phản ánh những quan điểm của những người bị gạt sang bên lề và bị câm tiếng.

Nhắm vào tầm quan trọng của địa vị xã hội và những lập trường chuyên biệt, những chủ nghĩa nữ quyền nổi dậy giới tính phá nổ những phạm trù về đàn bà và đàn ông thành mọi loại đa phức. Những chủ nghĩa nữ quyền đa văn hoá, đa chủng tộc, và đa sắc tộc là thành phần của một phong trào chính trị mạnh mẽ để chấn chỉnh sự kì thị về pháp lí và xã hội trong quá khứ và hiện tại với những nhóm kém thế trong rất nhiều xã hội và để bảo tồn những văn hoá của họ.

Những nghiên cứu nữ quyền về đàn ông đã phân tích những khía cạnh chủng tộc sắc tộc và giai cấp xã hội của nam tính và sự giao thoa giữa quyền lực và đặc quyền, giữa vô quyền và bạo động. Chúng đã mô tả những đẳng cấp của đàn ông trong một xã hội và những cung cách mà đám đàn ông kém lợi thế vẫn giữ sự kiểm soát phụ quyền trên đàn bà trong nhóm vị thế của họ.

Lí thuyết về kiến thiết xã hội, những chủ nghĩa nữ quyền hậu hiện đại và thuộc đợt sóng thứ ba chỉ vừa mới bắt đầu chuyển dịch sự phá bình ổn trật tự xã hội của chúng thành chính trị hoặc thực tiễn. Sự phá phân định giới tính cần phải được chuyển dịch vào trong tương tác hàng ngày, như thế cũng có thể đủ tính chất cách mạng. Nhưng để làm tròn tiềm năng chính trị của họ, những chủ nghĩa nữ quyền nổi dậy cần nêu rõ điều gì chính xác phải được làm trong mọi định chế và tổ chức của một xã hội – gia đình, nơi làm việc, chính phủ, các ngành nghệ thuật, tông giáo, luật pháp, và vân vân – để đảm bảo sự tham gia và cơ hội bình đẳng cho mọi người trong mọi nhóm. Những nhà nữ quyền nổi dậy giới tính đã nói rằng có những tiếng nói đa phức trong thế giới này; bây giờ họ phải hình dung ra cách nào để đảm bảo rằng mọi tiếng nói có thể được nghe thấy trong sự sản xuất về tri thức và văn hoá và trong những hệ thống quyền lực của những xã hội.

Gợi ý về đọc thêm – tổng quan và lịch sử

  • Bem, Sandra Lipsitz. 1993. Lenses of Gender: Transforming the Debate on Sexual Inequality. New Haven, CT: Yale University Press.
  • Bernard, Jessie. 1981. The Female World. New York: Free Press.
  • Butler, Judith. 1990. Gender Trouble: Feminism and the Subversion of Identity. (10th Anniversary Edition, 1999). New York: Routledge.
  • Butler, Judith. 1993. Bodies That Matter: On the Discursive Limits of “Sex.” New York: Routledge.
  • Butler, Judith. 2004. Undoing Gender. New York: Routledge.
  • Chafetz, Janet Saltzman, and Anthony Gary Dworkin. 1986. Female Revolt: Women’s Movements in World and Historical Perspective. Totowa, NJ: Rowman & Allanheld.
  • Clough, Patricia Ticineto. 1994. Feminist Thought: Desire, Power, and Academic Discourse. Cambridge, MA: Blackwell.
  • Collins, Patricia Hill. [1990] 2000. Black Feminist Thought: Knowledge, Consciousness, and the Politics of Empowerment, 2nd ed. New York: Routledge.
  • Connell, R. W. 1987. Gender and Power. Stanford, CA: Stanford University Press.
  • Connell, R. W. 1995. Masculinities. Berkeley: University of California Press.
  • Cott, Nancy F. 1987. The Grounding of Modern Feminism. New Haven, CT: Yale University Press.
  • de Beauvoir, Simone. [1949] 1953. The Second Sex. Translated by H. M. Parshley. New York: Knopf.
  • De Lauretis, Teresa. 1987. Technologies of Gender. Bloomington: Indiana University Press.
  • Epstein, Cynthia Fuchs. 1988. Deceptive Distinctions: Sex, Gender and the Social Order. New Haven, CT: Yale University Press.
  • Evans, Judith. 1995. Feminist Theory Today: An Introduction to Second-Wave Feminism. Thousand Oaks, CA: Sage.
  • Evans, Sara M. 2002. “Re-viewing the Second Wave.” Feminist Studies 28:259–267.
  • Fausto-Sterling, Anne. 2000. Sexing the Body: Gender Politics and the Construction of Sexuality. New York: Basic Books.
  • Ferree, Myra Marx, Judith Lorber, and Beth B. Hess, eds. 1999. Revisioning Gender. Thousand Oaks, CA: Sage.
  • Firestone, Shulamith. 1970. The Dialectic of Sex: The Case for Feminist Revolution. New York: William Morrow.
  • Ginzberg, Lori D. 2002. “Re-viewing the First Wave.” Feminist Studies 28:419–434.
  • Gordon, Linda. 1990. Woman’s Body, Woman’s Right: Birth Control in America. Rev. ed. Baltimore, MD: Penguin.
  • Harrison, Wendy Cealey, and John Hood-Williams. 2002. Beyond Sex and Gender. Thousand Oaks, CA: Sage.
  • hooks, bell. [1984] 2000. Feminist Theory: From Margin to Center. Boston: South End Press.
  • Hrdy, Sarah Blaffer. 1999. Mother Nature: A History of Mothers, Infants, and Natural Selection. New York: Pantheon.
  • Hull, Gloria T., Patricia Bell Scott, and Barbara Smith, eds. 1982. All the Women Are White, All the Blacks Are Men, But Some of Us Are Brave: Black Women’s Studies. New York: Feminist Press.
  • Jackson, Robert Max. 1998. Destined for Equality: The Inevitable Rise of Women’s Status. Cambridge, MA: Harvard University Press.
  • Jaggar, Alison M. 1983. Feminist Politics and Human Nature. Totowa, NJ: Roman & Allanheld.
  • Joseph, Gloria I., and Jill lewis, eds. 1981. Common Differences: Conflicts in Black and White Feminist Perspectives. Garden City, NY: Doubleday Anchor.
  • Kessler, Suzanne J., and Wendy McKenna. 1978. Gender: An Ethnomethodological Approach. Chicago: University of Chicago Press.
  • Kraditor, Aileen S. 1981. The Ideas of the Woman Suffrage Movement/ 1890–1920. New York: W. W. Norton.
  • Lerner, Gerda. 1986. The Creation of Patriarchy. New York: Oxford University Press.
  • Lorber, Judith. 1994. Paradoxes of Gender. New Haven, CT: Yale University Press.
  • Lorber, Judith. 2005. Breaking the Bowls: Degendering and Feminist Change. New York: W. W. Norton.
  • Marks, Elaine, and Isabelle de Courtivron, eds. 1981. New French Feminisms. New York: Schocken.
  • McCann, Carole R., and Seung-Kyung Kim, eds. 2002. Feminist Theory Reader: Local and Global Perspectives. New York: Routledge.
  • Mernissi, Fatima. 1987. Beyond the Veil: Male-Female Dynamics in Muslim Society. Bloomington: Indiana University Press.
  • Millett, Kate. 1970. Sexual Politics. Garden City, NY: Doubleday.
  • Moi, Toril. 1985. Sexual/Textual Politics: Feminist Literary Theory. New York: Methuen.
  • Oakley, Ann. 2002. Gender on Planet Earth. New York: The New Press.
  • Richards, Amy, and Jennifer Baumgardner. 2000. Manifesta: Young Women, Feminism, and the Future. New York: Farrar, Straus, and Giroux.
  • Riley, Denise. 1988. Am I That Name? Feminism and the Category of Women in History. Minneapolis: University of Minnesota Press.
  • Rossi, Alice S., ed. 1973. The Feminist Papers: From Adams to de Beauvoir. New York: Columbia University Press.
  • Rowbotham, Sheila. 1973. Women’s Consciousness, Man’s World. New York: Penguin.
  • Rowbotham, Sheila. 1974. Woman, Resistance and Revolution: A History of Women and Revolution in the Modern World. New York: Vintage.
  • Rowbotham, Sheila. 1976. Hidden from History: Rediscovering Women in History from the 17th Century to the Present. New York: Vintage.
  • Rowbotham, Sheila. 1989. The Past Is Before Us: Feminism in Action Since the 1960s. Boston: Beacon Press.
  • Sanday, Peggy Reeves. 1981. Female Power and Male Dominance: On the Origins of Sexual Inequality. Cambridge, UK: Cambridge University Press.
  • Scott, Joan Wallach. 1988. Gender and the Politics of History. New York: Columbia University Press.
  • Showalter, Elaine, ed. 1985. The New Feminist Criticism: Essays on Women, Literature, and Theory. New York: Pantheon.
  • Smith, Barbara. [1983] 2000. Home Girls: A Black Feminist Anthology. New York: Kitchen Table, Women of Color Press.
  • Snitow, Ann, Christine Stansell, and Sharon Thompson, eds. 1983. Power of Desire: The Politics of Sexuality. New York: Monthly Review Press.
  • Stites, Richard. [1978] 1990. The Women’s Liberation Movement in Russia: Feminism, Nihilism, and Bolshevism, 1860–1930. Princeton, NJ: Princeton University Press.
  • Thompson, Becky. 2002. “Multiracial Feminism: Recasting the Chronology of Second Wave Feminism.” Feminist Studies 28:337–355.
  • Tong, Rosemarie. 1989. Feminist Thought: A Comprehensive Introduction. Boulder, CO: Westview Press.
  • Warhol, Robyn R., and Diane Price Herndl, eds. 1991. Feminisms: An Anthology of Literary Theory and Criticism. New Brunswick, NJ: Rutgers University Press.
  • Whittle, Stephen. 2002. Respect and Equality: Transsexual and Transgender Rights. London: Cavendish Publishing.
  • Wing, Adrien Katherine, ed. 2000. Global Critical Race Feminism: An International Reader. New York: New York University Press.
  • Woolf, Virginia. 1929 [1957]. A Room of One’s Own. New York: Harcourt, Brace & World.

Trích Phần Một cuốn “Bất bình đẳng giới: những lí thuyết và chính trị nữ quyền, Gender Inequality: Feminist Theories and Politics, 5th Ed. New York: Oxford, 2012,  biên tập lần 3, Judith Lorber, Ấn quán Đại học Oxford, 2005.

Scridb filter

]]>
http://phiatruoc.info/su-da-dang-cua-chu-nghia-nu-quyen-va-nhung-dong-gop-vao-su-binh-dang-gioi/feed/ 1